Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2019

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2019
Của Đức Thánh Cha Phanxicô

Anh chị em thân mến,
Hàng năm, qua Mẹ Giáo hội, Thiên Chúa “ban cho chúng ta mùa vui này khi chúng ta chuẩn bị kỷ niệm Mầu nhiệm Vượt qua với tâm hồn và quả tim được đổi mới…khi chúng ta tưởng niệm những sự kiện vĩ đại, là những sự kiện đem lại cho chúng ta sự sống mới nơi Chúa Kitô (Lời tựa, Mùa Chay I). Do đó, chúng ta có thể hành trình từ sự Phục Sinh hướng tới việc kiện toàn ơn cứu độ mà chúng ta đã lãnh nhận nhờ kết quả của Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô – “Quả thế, chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong” (Rm 8:24). Mầu nhiệm Cứu độ này, đã hoạt động trong chúng ta trong suốt cuộc sống trần gian của chúng ta, là một quá trình năng động, cũng bao trùm lịch sử và tất cả mọi loài thọ tạo. Như Thánh Phaolô nói, “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8:19). Trong viễn cảnh này, tôi muốn đưa ra một vài suy tư để đồng hành cùng cuộc hành trình hoán cải Mùa Chay sắp tới của chúng ta.
1.   Ơn cứu độ đối với mọi loài thọ tạo
Việc cử hành Tam Nhật Vượt qua với cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, đỉnh cao của năm phụng vụ, mời gọi chúng ta hàng năm thực hiện một hành trình chuẩn bị, với nhận thức rằng việc chúng ta được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô (x. Rm 8:29) chính là một món quà vô giá của Lòng thương xót của Thiên Chúa.
Khi chúng ta sống như con cái của Thiên Chúa, được cứu độ, được dẫn dắt bởi Chúa Thánh Thần (x. Rm 8:14) và có khả năng nhận biết và tuân giữ giới luật của Thiên Chúa, bắt đầu với những giới luật được viết nơi tâm hồn chúng ta cũng như trong tự nhiên, chúng ta cũng làm lợi cho công trình sáng tạo bằng cách cộng tác trong ơn cứu chuộc nó. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô nói rằng mọi loài thọ tạo ngóng trông ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người; hay nói cách khác, rằng tất cả những ai được hưởng ân sủng của Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu đều có thể trải nghiệm sự kiện toàn của nó quan ơn cứu độ đối với chính thân xác con người. Khi tình yêu của Chúa Kitô biến đổi đời sống của các vị Thánh về mặt tinh thần, thể xác và linh hồn, họ dâng lời ngợi khen Thiên Chúa. Thông qua việc cầu nguyện, chiêm niệm và nghệ thuật, họ cũng kể đến các loài thụ tạo khác trong lời tán tụng đó, như chúng ta thấy đã được thể hiện một cách đáng ngưỡng mộ trong “Bài Ca Thụ Tạo” của Thánh Phanxicô Assisi (x. Thông điệp Laudato Si, số 87). Tuy nhiên, trong thế giới này, sự hài hòa được tạo ra bởi ơn cứu độ liên tục bị đe dọa bởi sức mạnh tiêu cực của tội lỗi và sự chết.
2.   Sức mạnh hủy diệt của tội lỗi
Thật vậy, khi chúng ta không sống với tư cách là con cái Thiên Chúa, chúng ta thường cư xử theo cách thức tiêu cực đối với những người thân cận cũng như các thụ tạo khác – cũng như chính bản thân chúng ta – vì chúng ta bắt đầu ít nhiều suy nghĩ một cách có ý thức rằng chúng ta có thể sử dụng chúng theo ý muốn của chúng ta. Sau đó, sự vô độ dần dần chiếm ưu thế: chúng ta bắt đầu sống một cuộc sống vượt quá những giới hạn được đặt ra bởi chính điều kiện con người và bản chất của chúng ta. Chúng ta quy phục những mong muốn không bị gò bó mà Sách Khôn Ngoan đã coi như là điển hình của tội lỗi, những người hành động mà không nghĩ đến Thiên Chúa hoặc hy vọng về tương lai (x. Kn 2: 1-11). Trừ khi chúng ta có xu hướng liên tục hướng tới lễ Phục sinh, hướng về phía chân trời Phục sinh, nếu không, tâm lý được thể hiện trong các khẩu hiệu như: “Tôi muốn có tất cả và tôi muốn nó ngay bây giờ!”, hay “Bấy nhiêu vẫn chưa đủ”, sẽ giành thế thượng phong.
Căn nguyên của mọi sự ác, như chúng ta biết, chính là tội lỗi, mà ngay từ lần xuất hiện đầu tiên đã phá vỡ sự hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa, với những người khác và với chính các loài thụ tạo, mà qua đó chúng ta được liên kết theo một cách riêng biệt nhờ thân xác của chúng ta. Sự rạn nứt này đối với sự hiệp thông với Thiên Chúa cũng làm suy yếu mối tương quan hài hòa của chúng ta với môi trường mà qua đó chúng ta được mời gọi để sống, để rồi khu vườn trở thành một nơi gai góc hoang dã (x. St 3: 17-18). Tội lỗi khiến con người tự xem mình là đấng tạo hóa, tự xem mình là vị chúa tể tuyệt đối và tùy ý sử dụng nó, không theo như mục đích mà Đấng Tạo Hóa mong muốn mà vì lợi ích của chính bản thân mình, gây tổn hại đến các loài thụ tạo khác.
Một khi giới luật của Thiên Chúa, luật của yêu thương, bị khước từ, thì luật của kẻ mạnh hơn kẻ yếu sẽ chiếm ưu thế. Tội lỗi ẩn giấu nơi tâm hồn con người (x. Mc 7: 20-23) mang hình dáng của sự tham lam cũng như việc theo đuổi sự an nhàn một cách vô độ, thiếu quan tâm đến lợi ích của người khác và thậm chí của chính mình. Nó dẫn đến việc khai thác công trình sáng tạo, cả con người và môi trường, do sự thèm muốn vô độ đó, vốn coi mọi ham muốn như là một quyền và sớm hay muộn cũng sẽ phá hủy tất cả những thứ trong tầm tay của nó.
3.   Sức mạnh chữa lành của sự ăn năn hối cải và sự tha thứ
Muôn loài thụ tạo hết sức mong mỏi con cái Thiên Chúa thực sự trở nên “những thụ tạo mới”. Vì “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5:17). Thật vậy, nhờ vào việc được mặc khải, chính loài thụ tạo có thể của hành một Cuộc Vượt qua, tự mở ra một trời mới đất mới (x. Kh 21: 1). Hành trình hướng đến Lễ Phục Sinh đòi hỏi chúng ta cần phải đổi mới diện mạo và tâm hồn của mình với tư là những người Kitô hữu thông qua việc ăn năn, hoán cải và tha thứ, ngõ hầu có thể sống trọn vẹn ân sủng dồi dào của Mầu nhiệm Vượt qua.
“Khát khao mãnh liệt và háo hức” này, mong đợi của tất cả mọi loài thụ tạo này, sẽ được kiện toàn qua sự mặc khải vinh quang của con cái Thiên Chúa, nghĩa là, khi các Kitô hữu và tất cả mọi người dứt khoát bước vào “công việc đầy khó nhọc”, vốn đòi hỏi một sự hoán cải. Tất cả mọi loài thụ tạo được mời gọi, cùng với chúng ta, bước ra khỏi “tình trạng nô lệ và cảnh hư nát để được chung hưởng tự do và vinh quang của con cái Thiên Chúa” (Rm 8:21). Mùa Chay chính là một dấu chỉ mang tính Bí tích của sự chuyển đổi này. Nó mời gọi các Kitô hữu thể hiện Mầu nhiệm Vượt qua một cách mạnh mẽ và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của mình, trước hết qua việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí.
Ăn chay, nghĩa là học cách thay đổi thái độ của chúng ta đối với người khác và tất cả mọi thụ tạo, tránh xa cám dỗ “nuốt chửng” tất cả mọi thứ hầu thỏa mãn thói tham lam của chúng ta, và sẵn sàng chịu hy sinh vì tình yêu, là điều có thể lấp đầy sự trống rỗng nơi tâm hồn mỗi người chúng ta. Cầu nguyện dạy chúng ta từ bỏ việc tôn thờ ngẫu tượng cũng như sự kiêu căng của bản ngã, và đồng thời thừa nhận nhu cầu của chúng ta đối với Thiên Chúa và Lòng thương xót của Ngài. Bố thí là việc mà nhờ đó chúng ta thoát khỏi sự điên rồ của việc chỉ lo tích trữ tất cả mọi thứ cho bản thân với niềm tin viển vông rằng chúng ta có thể đảm bảo một tương lai vốn chẳng hề thuộc về chúng ta. Và do đó, tái khám phá niềm vui kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa đối với công trình sáng tạo và đối với mỗi chúng ta, đó là yêu mến Ngài, yêu mến anh chị em của chúng ta, và toàn thể thế giới, và để khám phá ra nơi tình yêu này hạnh phúc đích thực của chúng ta.
Anh chị em thân mến, thời gian “bốn mươi ngày chay” mà Con Thiên Chúa trải qua trong hoang địa đã mang mục đích biến nó trở thành một khu vườn của sự hiệp thông với Thiên Chúa mà trước kia đã từng là như vậy trước tội nguyên tổ (x. Mc 1: 12-13; Is 51: 3). Chớ gì Mùa Chay năm nay của chúng ta trở thành một hành trình trên cùng con đường đó, mang niềm hy vọng của Chúa Kitô cho mọi thụ tạo, để tạo thành thụ “cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8: 21). Chúng ta đừng để cho thời cơ ân sủng này trôi qua một cách vô ích! Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa giúp chúng ta đặt ra cho mình một con đường của sự hoán cải thực sự. Chúng ta hãy bỏ lại sau lưng thói ích kỷ và chỉ tự quan tâm đến bản thân mình, và hướng đến Cuộc Vượt qua của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy sát cánh với những anh chị em của chúng ta đang cần được giúp đỡ, chia sẻ những của cải tinh thần và vật chất của chúng ta với họ. Có như vậy, bằng cách đón nhận một cách cụ thể chiến thắng của Chúa Kitô đối với tội lỗi và sự chết vào cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng sẽ chiếu tỏa sức mạnh có tính biến đổi của nó cho tất cả mọi loài tạo.
Từ Vatican, ngày 4 tháng 10 năm 2018
Lễ Thánh Phanxicô Assisi
Giáo Hoàng Phanxicô
Đọc tiếp »

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Chúa Nhật XV - tn C



CHÚA NHẬT XV TN C

"Người Samria nhân hậu"

Tin Mừng hôm nay Chúa dạy chúng ta yêu thương bằng việc làm.
Người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ. Thầy tư tế và thầy Lê vi trong Tin mừng "tránh qua bên kia mà đi" là vì các thầy sợ phạm luật ô uế khi đụng vào người bệnh, đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà đến bản thân.
Trong cuộc sống, chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người anh em khi họ cần giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ mất thời gian, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an toàn, tiện nghi của mình. Chúng ta muốn được yên thân! Thầy tư tế và thầy Lêvi đã tự hỏi: "Điều gì sẽ xảy ra cho tôi, nếu tôi dừng lại và săn sóc người anh em bị đánh nhừ tử?". Trái lại, người Samari đã đảo ngược câu hỏi: "Điều gì sẽ xảy ra cho người anh em bị đánh nhừ tử, nếu tôi không dừng lại và chăm sóc người ấy?" Người Samari tốt lành đã xả thân vào một hành động vị tha đầy nguy hiểm.
Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Yêu thương là hy sinh, là quên mình, là hiến thân phục vụ tha nhân: Kahil Gibram có một câu nói chí tình: "Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi". Càng đi tìm bản thân, con người càng đánh mất chính mình. Càng co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của mình, con người càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn. Càng muốn được yên thân, con người càng vong thân. Thánh Phanxicô trong lời kinh Hòa Bình: "chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân".
Nỗi khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể được lấp đầy khi họ biết đến gần, cúi xuống phục vụ tha nhân. Con người chỉ thành đạt thực sự, con người chỉ thục sự là người khi họ dám sống chết cho anh em.
Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác. Mẹ Têrêsa Calcutta nói: "Ki tô hữu là người trao ban chính bản thân mình".
Tôi hay đọc tin tức trên Internet, và vừa rồi có một bài báo nói rằng người Trung quốc hôm nay khá dững dưng và vô tâm; dững dưng với những nỗi đau khổ của người khác. Họ sợ cứu người sẽ liên lụy. Thế nhưng không phải chỉ hôm nay, mà tôi đã xem một video clip cách đây khá lâu từ năm 2011 đã nói đến điều đó.
Câu nhuyện trên video clip:
1. Một em bé ở Trung quốc, khoảng 3,4 tuổi sáng sớm chạy ra đường bị một xe tải nhỏ cán vào em bé nằm đó xe bỏ chạy; một lát sau thêm một chiéc xe chở khách chay qua cán tiếp lên người em bé và cũng bỏ chay luôn. Nhiều người đi dường đi qua nhìn thấy bỏ đi, những người đi xe máy xe đạp đi qua cũng bỏ đi. Lát sau có một người công nhân đi quét đường thấy em bé và ôm em vào lề, sau đó người ta đưa em vào bệnh viện nhưng bị thương quá nặng em đã chết sau đó. Theo camera ghi lại có 18 người đã đi ngang qua nhìn thấy em bé bị thương nằm đó nhưng đã bỏ đi qua. (21/10/2011 bé Duyệt Duyệt qua đời)[1].
2. Vào ngày 26/5/2018[2]. Hình ảnh trên video cho thấy bé trai 4 tuổi treo người lơ lửng bên ngoài ban công, dường như ở nhà một mình trong khi bố mẹ đi vắng.
Phát hiện cậu bé đang gặp nguy hiểm, Mamoudou Gassama, một thanh niên nhập cư gốc Mali, ngay lập tức trèo qua ban công của 4 tầng chung cư và chỉ mất chưa đến 30 giây để tới vị trí của bé trai dù không sử dụng thiết bị bảo hộ nào.
Gassama đã ôm lấy cậu bé và đưa em vào nơi an toàn trong sự cổ vũ của nhiều người dân xung quanh. Đứa trẻ chỉ bị tróc một móng tay, trong khi anh chàng có vài vết xước trên người.
Gassama, 22 tuổi, người đến Pháp cách đây 6 tháng, kể rằng anh đang đi qua chung cư thì thấy đám đông tụ tập trước tòa nhà. Một người hàng xóm đã gọi cho lực lượng cứu hỏa sau khi cố gắng giải cứu bé trai từ ban công bên cạnh nhưng bất thành.
"Tôi làm điều này vì đó là một đứa trẻ", Gassama nói khi được hỏi tại sao lại mạo hiểm tính mạng của mình để cứu bé trai.
Hành động dũng cảm của Gassama nhận được sự ca tụng trên mạng xã hội. Tổng thống Emmanuel Macron thậm chí đã mời anh đến Điện Elysee   để đích thân cảm ơn chàng thanh niên này.
Thị trưởng Paris Anne Hidalgo cũng ca ngợi sự anh hùng của Gassama và nói rằng bà đã gọi cho anh để cảm ơn. Bà mô tả anh là "người nhện của quận 18". 
"Xin gửi lời chúc mừng đến Mamoudou Gassama vì hành động dũng cảm của cậu ấy đã cứu sống một đứa trẻ", bà Hidalgo viết trên Twitter. Tôi trả lời rằng hành động anh hùng của cậu ấy là tấm gương cho tất cả công dân và thành phố Paris sẽ hỗ trợ cậu ấy định cư ở Pháp".
Hôm nay, chúng ta họp nhau trong ngày Chúa Nhật. Chúng ta nghe Lời Chúa, rồi lát nữa rước Chúa. Xin Lời Chúa đánh động chúng ta, giúp chúng ta dành ưu tiên cho Chúa. Để có được sức mạnh yêu thương anh chị em, ta phải yêu mến Chúa trước hết. Yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn nghĩa là đặt Chúa lên trên hết trong cuộc đời của mình. Chúa phải chiếm chỗ nhất trong tâm hồn chúng ta, Chúa phải là chỗ nhất trong mọi hoạt động. Từ đó chúng ta mới có sức để yeu thương anh chị em. Nếu không có lòng yêu mến Thiên Chúa, con người sẽ không yêu thương anh chị em mình được.
Lạy Chúa cuộc sống đạo của chúng con sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi của đạo là yêu thương chỉ là điều phụ thuộc. Xin đừng để chúng con loay hoay với những tính toán ích kỷ; chai đá, dửng dưng trước những khổ đau của anh em. Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót thương và giúp đỡ những ai đang cần đến chúng con. Amen (TP)
L.m. G.B. Trương Đình Hà

Đọc tiếp »

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

Thằng Khùng - Thanh Ngang trên Thập Tự Giá


THẰNG KHÙNG
(Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)

Bài viết của nhà thơ Phùng Quán,
(THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài. Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Tuân Nguyễn (không phải Nguyễn Tuân là nhà văn có cùng tên) – khi cùng ở trong tù)

“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
– Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
– Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
– Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
– Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
– Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi.
– Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
– Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
– Tôi thích nhất là Candide.
– Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
– Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: “Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.
– Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
– Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
– Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
– Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… – những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
– Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
– Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
– Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
– Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
– Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…
Phùng Quán
Ghi chú: Tuân Nguyễn (không phải nhà văn Nguyễn Tuân) là một nhà thơ tài hoa, tinh tế, song có số phận hẩm hiu, đau khổ. Đây là câu chuyện do ông Tuân Nguyễn kể lại cho Phùng Quán, rồi Phùng Quán viết lại. Nhân vật chính – Cha Vinh – mất năm 1971. Tuân Nguyễn bị tù đến 1973, nên ông đã chứng kiến cái chết của nhân vật.
____________________
Ghi Chú:
(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.
Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa của Ngài….
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH,
Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).
Tấm gương can trường.
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*
Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.
Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.
Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.
Ngài học Văn Khoa – Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại
Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour Madame!”
Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu
Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize – Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu.
Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.
Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.
Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha
Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.
Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.
Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “Ở Dưới Vực Sâu” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.
Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,” “Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8, Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.
Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.
Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng.
Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:
“Tự do thế này à!”
Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.
Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân
khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:
“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”
Ngài đáp:
“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”
Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”
Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.
Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”
Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.
Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
TGP Hà Nội
BBT (Theo HĐGMVN)
Nguồn trang Facebook Lư Lư Châu




Đọc tiếp »

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

TĨnh Tâm mùa chay 3- Thiên Chúa tìm kiếm con người


TĨNH TÂM CỘNG ĐOÀN
Buổi thứ ba 29/3/2019: Thiên Chúa tìm kiếm con người
L.m. G.B Trương Đình Hà


Cầu nguyện đầu: Lạy Chúa chúng con cám ơn Chúa vì Chúa đã yêu thương chúng con, đã cho chúng con thời gian để sống; đã hướng dẫn chúng con sống tốt lành bằng lề luật thánh thiện của Chúa, đã dẫn dắt chúng con, tìm kiếm chúng con, và hôm nay đã quy tụ cộng đoàn chúng con nơi đây để dọn mình gặp gỡ Chúa. Xin Chúa gợi lên trong chúng con những ước muốn lành thánh và quyết tâm mới trở về với Chúa trong mùa chay này.
Hát: Xin Ngôi Ba Thiên Chúa
Xin Mẹ Maria, Thánh Giuse và các thánh cầu bàu cùng Chúa cho chúng con.
Đọc kinh Kính Mừng
Đọc Tin Mừng (Lc 15, 4-10)
Gợi ý:
1. Chúng ta đi tìm Chúa hay Chúa đi tìm chúng ta
- Chúa tìm con người. Câu chuyện đàn vịt. Ađam - Evà
2. Tại sao Chúa tìm chúng ta? Bởi vì Chúa yêu chúng ta.
- Yêu là gì? (Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử: Ai hãy lặng im chớ nói nhiều, để nghe dưới đáy nước hò reo, để nghe tơ liễu rung trong gió, và để cho Trời giải nghĩa yêu)
- Tình yêu muốn người mình yêu có mặt: Chúa sáng tạo chúng ta. Ngài muốn chúng ta có mặt, yêu ai mình muốn người đó có mặt. Nên Chúa dựng nên chúng ta.
- Tình yêu muốn người ta nhớ tên mình. Yêu ai mình cũng muốn người đó biết tên của mình. Tên mình quan trọng lắm. Có người gọi điện thoại đến hỏi cha có nhớ con không? Sao mà nhớ được! Nhưng nếu nhớ thì người ddó chắc là vui lắm. Chúa có tên không? Tên của Chúa là gì? " Ta là Đấng Hiện Hữu". Vì vậy mà Ngài cho chúng ta biết tên vì yêu ta.
- Tình yêu muốn người mình yêu được tự do. Chúa ban tự do cho con người. Tự do đến nỗi con người đi vào con đường tội lỗi và quay lưng lại với Thiên Chúa.
- Tình yêu đòi mình hy sinh cho người khác. Chúa hy sinh cho ta, Chúa chết cho ta.
- Tình yêu đòi mình có thì giờ cho người khác. Chúa yêu ta Chúa ban thời gian dành cho ta. Ta yêu Chúa ta đừng tiếc với Chúa. Hãy dành thời gian cho Chúa. Đôi khi đến với Chúa cách vội vã, đến muộn về sớm, nhiều người đi lễ trể thấy áy náy chạy vội đến cho kịp lễ, nhiều người cứ lững thững được lúc nào hay lúc ấy. Đi lễ học hỏi Lời Chúa thì thấy lâu nhưng mà ngồi lại với nhau thì vui lắm bao nhiêu thời gian cũng được, chúng ta dễ bị cám dỗ. Rồi hãy dành thời gian cho nhau, cho gia đình, vội có mặt tốt mặt tích cực nhưng nếu sống cách vội vã chỉ có tính toàn bươn chải làm ăn suốt thì ta đánh mất những giây phút dễ thương trong cuộc đời. Thỉnh thoảng phải có buổi gặp gỡ đầy đủ gia đình con cái với cha mẹ. Lẽ thường ở đời ai ai cũng muốn nhanh chóng làm được nhiều điều một cách nhanh chóng, làm nhanh như thế là tốt nhưng nhanh như thế lại khiến mình sống thật nhạt, bỏ qua những hạnh phúc giản dị, tình yêu thương và bình yên quanh ta, đôi khi chỉ quay cuồng chạy theo những thứ hư ảo có đó rồi lại mất, đến khi chợt nhìn lại thì ta đã già, đánh mất khoảng thời gian đẹp đẽ nhất của cuộc sống. Khi ta chạy thì hạnh phúc cũng chạy theo. Khi ta đứng yên thì hạnh phúc đứng đó mĩm cười với ta.
Xin trích bài thơ Vội của Thích Tánh Tuệ
Thơ: Vội
Vội đến vội đi, vội nhạt nhòa
Vội vàng sum họp, vội chia xa
Vội ăn vội nói rồi vội thở,
Vội hưởng thụ mau kẻo vội già
Vội sinh vội tử vội một đời
Vội cười, vội khóc, vội buông lơi
Vội thương, vội ghét nhìn nhau lạ
Vội vã tìm nhau vội vã rời
Vội bao nhiêu kiếp rồi vẫn vội
Đuổi theo hạnh phúc cuối trời xa
Ngoài hiên đâu thấy hoa hồng nở
Vội ngày, vội tháng vội năm qua
Cứ thế nghìn thu đời vẫn vội
Mặt mũi ngày xưa không nhớ ra
Đáy nước tìm trăng mà vẫn vội
Vội tĩnh vội mê, vội gật gà
Vội quên vội nhớ vội đi về
Bên ni, bên nớ mãi xa ghê
Có ai "giác lộ" bàn chân vội
"Hỏa trạch" bước ra dứt não nề.

3. Đáp lại cuộc tìm kiếm của Chúa, Đáp lại tình yêu Chúa. Đáp lại lời mời gọi của Chúa,  chúng ta cần nổ lực trở về, nổ lực tìm Chúa gặp Chúa trong cuộc đời mình.
Cụ thể: Mỗi người trong gia đình nổ lực trở về sống luật Tin Mừng, sống đời sống kinh nguyện, đi lễ, thành tâm ăn năn sám hối những tật xấu của mình, xưng tội, quyết tâm cải thiện đời sống. Sống cho Chúa, cho anh chị em, quan tâm đến người nghèo, người đau khổ.
Người chồng không tìm hạnh phúc cho mình mà cho người vợ. Không chỉ bắt vợ phục vụ mình mà mình cần phải phục vụ nghĩ đến vợ mình, con mình. Chăm sóc cho nhau cho gia đình.
Phía người vợ đừng đanh đá với chồng, với con. Cũng đừng chạy theo "group", rồi bê tha với việc chăm sóc gia đình mình. Sự dịu dàng đức hạnh là vũ khí của người phụ nữ. Những người con cần nổ lực sống đạo, nhất là giới trẻ ngày hôm nay bị lôi cuốn vào công ăn việc làm, học hành mà quên mất những giá trị đạo đức. Rồi phần khác bị bạn bè lôi cuốn, lối sống buông thả tự do lôi cuốn nên có thế sa đà vào lầm lạc; bỏ bê nhà thờ, kinh lễ. Mùa Chay là mùa quyết tâm trở về. Quyết tâm tìm gặp Chúa trong cuộc đời mình.
Chuyện minh họa:
1. Bà vợ có ông chồng nghiện rượu
Hai vợ chồng có 4 người con, từ 2 đến 8 tuổi, các cháu xinh xắn khỏe mạnh, anh làm công chức vợ nội trợ ở nhà, và rảnh lúc nào, chị leo lên chiếc máy may để may gia công hàng chợ. Hai vợ chồng này rất hiền lành, bà con chòm xóm ai cũng quý mến. Ðột nhiên, một năm nay anh ta bị bè bạn quyến rũ mắc phải tật nghiện rượu. Mới đầu, ngày một hai ly, chẳng sao, dần dần cơn nghiện tăng lên, làm cho anh không còn sáng suốt nhận thức được những hành động của mình, tiền lương hàng tháng đem về cho vợ nuôi con càng ngày càng ít. Ðã vậy, anh lại u mê hành hạ vợ, đòi tiền uống rượu, nộ nạt con cái làm cho đứa nào cũng sợ anh như sợ cọp.
Nhưng làm sao để cho anh trở về bổn phận chính đáng của anh, là làm chồng làm cha? Ðã nhiều lần vợ anh đã thỏ thẻ bên tai anh, đã van xin anh, thậm chí chị đã hù sẽ bỏ anh nếu anh cứ đam mê rượu chè! Thế nhưng đều vô ích, mặc cho chị khuyên bảo, van xin, anh càng ngày càng thêm hành hạ chị nếu chị không bỏ tiền ra cho anh mua rượu. Cuối cùng chị nghĩ, chỉ còn cách phải cầu nguyện thật nhiều, phải ráng chịu cảnh hành hạ của chồng để dâng lên Chúa làm của lễ hy sinh cầu nguyện. Chị nói với các con: "Ba mình bây giờ bị ma quỷ lôi kéo, bị bè bạn quyến rũ rượu chè hóa thế này, thì các con và mẹ đều buồn chứ, mà chẳng biết làm sao. Thôi từ tối nay, các con với mẹ cố gắng tối nào cũng chịu khó lần hạt kính Ðức Mẹ, xin Mẹ thương dẫn đưa ba mình trở về với Chúa từ bỏ bạn bè xấu với con ma rượu."
Từ đó, tối nào chị và 4 cháu cũng chăm chỉ sốt sắng lần hạt năm chục Kinh Mai Khôi và tha thiết dâng lên Chúa, dâng lên Mẹ những lời nguyện xin, cầu cho người cha trong gia đình biết ăn năn hối cải. Sau giờ kinh tối là chị lại đun nồi nước nóng để chờ chồng về, cho anh tắm rửa. Còn anh thì vẫn tiếp tục đi sớm về khuya, vẫn tiếp tục rượu chè, nói năng lè nhè...
Cho đến một hôm, anh đang ở quán nhậu với bạn bè, anh cảm thấy như có ai thúc hối anh phải về nhà sớm, mặc dù nhìn đồng hồ chưa đến 9 giờ tối. Bạn bè cùng bàn níu kéo anh thế nào cũng không được. Ðến nhà, anh xô cổng bước vào thì thấy cửa nhà đóng kín, bên trong nhà 5 mẹ con đang đọc kinh lần hạt. Anh dựng chiếc xe lên và ngồi lên đó nghe ngóng, đúng lúc đó tiếng đọc kinh chấm dứt và tiếng vợ anh cất lên: "Lạy Chúa, lạy Mẹ, con đau khổ lắm, cả năm nay chồng con làm khổ con rất nhiều. Tiền bạc anh ấy làm ra đem về cho con thì ít, và anh ấy đòi con bỏ ra cho anh ấy ăn nhậu thì nhiều. Con lấy đâu ra tiền vừa lo cho 4 đứa con ăn học, lại còn lo cho chồng ăn nhậu. Ôi, xin Chúa, xin Mẹ thương cho chồng con biết trở lại làm con người hiền lành như xưa..."
Những lời tâm sự với Chúa với Mẹ của vợ anh, anh nghe rõ mồn một, anh còn nghe cả tiếng sụt sùi của vợ anh, làm anh thấy chạnh lòng. Anh đang suy nghĩ miên man, thì anh nghe tiếng đứa con lớn vang lên: "Lạy Chúa, chúng con cũng buồn lắm, ba con cứ đi cả ngày nhậu nhẹt với bạn bè, chẳng biết chúng con cần gì, thiếu gì. Chúa ơi, Chúa hãy đưa ba con về cho chúng con nhé, để mẹ con và chúng con khỏi khổ."
Sau lời nguyện của người con này là bài hát "Xin Vâng" do chị vợ anh xướng lên và các con cùng hát. Sau đó là làm dấu Thánh Giá kết thúc... Ðứa con lớn mở cửa ra, thấy ba em đang ngồi trên nệm yên xe vội reo lên: "A, ba đã về!" Nghe thế chị vợ anh nói lớn: "Ô, anh chờ em nấu nước cho anh tắm rửa nghen." Người chồng dắt xe vào nhà và nói vừa đủ cho vợ anh nghe: "Thôi để anh tắm nước lạnh được rồi, và từ mai anh sẽ không còn uống rượu nữa!"
Ðây quả là một phép lạ, Chúa và Ðức Mẹ đã đưa người chồng từ bỏ con đường nghiện rượu, trở về với mái ấm gia đình, chỉ do việc thành tâm lần chuỗi Mai Khôi của vợ con anh.
Phạm Văn Lượng (Huynh Ðoàn Ki-Tô Bệnh Nhân Và Người Khuyết Tật) sưu tầm
 (Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 33, năm 2001) Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia
2. Ăn năn
Satan phàn nàn với Chúa: "Ngài không công bằng. Nhiều tội nhân làm điều sai trái và Ngài lại đón nhận họ. Thật ra, có người trở lại sáu bảy lần và Ngài vẫn nhận. Tôi chỉ phạm một lỗi lớn mà Ngài kết án tôi đời đời. "Chúa nói: "Đã bao giờ ngươi xin tha thứ hoặc ăn năn chưa?".
3. Cơ hội cuối cùng
Sau khi đánh tan một cuộc nổi loạn, nhà vua bắt những kẻ phản loạn về. Ông ra lệnh thắp lên một cây nến, rồi nói với họ: "Ai chịu đầu hàng và thề trung thành với ta thì sẽ được tha, bằng không sẽ bị giết Các ngươi hãy suy nghĩ. Khi cây nến tắt thì cuộc hành quyết sẽ bắt đầu". Thiên Chúa cũng đối xử với tội nhân như vậy: Ngài cho họ một thời gian gia hạn. Tuy nhiên có một khác biệt quan trọng: không ai biết cây nến của đời mình còn dài hay ngắn. (Tonne).





Đọc tiếp »

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2019

Lễ Thánh Giuse


 SỐNG ĐỨC THINH LẶNG CỦA THÁNH GIUSE


Kính thưa cộng đoàn
Chúng ta đang ở trong mùa chay, và nếu mùa chay là mùa sám hối, trở về, thì có lẽ việc trở về sâu xa nhất là trở về cõi lòng mình trong thinh lặng để nhận ra Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương, nhận ra tha nhân là anh chị em mình, nhất là nhận ra con người thật của mình. Nhờ đó mà ta có những điều chỉnh cho đúng đắn phù hợp với ý Chúa hơn.
Và tại sao Giáo Hội đặt tháng kính Thánh Giuse trong Mùa Chay, chính bởi vì ngài là khuôn mẫu của con người nội tâm, thinh lặng.
Trong lễ mừng kính thánh Giuse hôm nay, xin Chúa cho chúng ta biết trân trọng và yêu quý đời sống thinh lặng, nhất là biết học nơi thánh Giuse bài học về “đức thinh lặng”.
Có truyện kể về 3 pho tượng vàng: Ngày xưa một nhà vua Ấn Độ, muốn tuyển nhân tài của đất nước. Nhà vua có ba pho tượng vàng, giống hệt nhau, yêu cầu,  ai tìm được bí mật giá trị của mỗi pho tượng sẽ được trọng thưởng.
Nhiều người thông thái nghĩ ngay tới giá trị của mỗi pho tượng sẽ căn cứ vào cân nặng nhẹ, hoặc vào tuổi vàng tốt xấu, hoặc căn cứ vào nghệ thuật tìm thấy trên ba pho tượng vàng! Nhưng rồi các nhà thông thái đành phải bó tay, vì ba pho tượng này giống hệt nhau về nghệ thuật, khối lượng và tuổi vàng.
Có một người ở ẩn trong núi biết chuyện xin được xem ba pho tượng. Lập tức nhà vua cho anh xem ba pho tượng. Vừa ngó xong ba pho tượng, anh ta xin một cọng rơm. Anh lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ nhất, thì thấy cọng rơm xuyên từ lỗ tai này sang lỗ tai kia, anh bảo: “đây là pho tượng ít giá trị nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người nghe điều gì, vừa vào tai nọ, đã ra tai kia, không biết ghi nhớ, không để tâm gì suy nghĩ điều đã nghe”.
Anh ta lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ hai, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống miệng pho tượng. Anh bảo: “pho tượng này hơn pho tượng trước là vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ nhưng mắc khuyết điểm là: vừa nghe được gì đã vội nói ngay, không suy nghĩ xem điều mình nghe đúng hay sai, nói ra có lợi hay có hại”.
Anh lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ ba, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống bụng. Anh nói: “pho tượng này quý giá nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ, biết để lòng suy nghĩ, biết ghi vào tâm dạ mình”.
Vua đã trọng thưởng cho người đó và gọi người đó vào làm quan trong triều[1].

Trong các sách Tin Mừng dù có nhắc tên Thánh Giuse đôi lần, nhưng không hề thuật lại bất cứ lời nào của thánh Giuse. Có lẽ không phải vì vô tình mà Thánh Kinh không ghi nhận một lời nào của Thánh Giuse, nhưng muốn đề cao giá trị của sự thinh lặng.
Thinh lặng giúp ta cảm nhận được vẽ đẹp.
Trong bài thơ “Đà Lạt Trăng Mờ”, nhà thơ Hàn Mặc Tử kêu mời ta hãy lắng đọng tâm hồn trong cỏi riêng tư để cảm nhận sâu xa vẻ đẹp thiên nhiên mà Thượng Đế yêu thương ban tặng cho.
“…Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hò reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu…”
Chỉ có thinh lặng, ta mới chìm sâu vào tận đáy lòng mình để nhận ra đáy nước hò reo, nghe thấy nhịp rung của liễu tơ và nhận ra tình yêu của đất trời.
Chính đời sống thinh lặng, Thánh Giuse mới có khả năng nhìn thấu được phía bên kia của những biến động làm xáo trộn cuộc sống của ngài. Chính trong thinh lặng ngài mới thấu suốt và tin tưởng vào những vẽ đẹp của ơn Chúa ban trước những biến cố đầy sóng gió xảy đến cho gia đình mình.
Thinh lặng là chọn cho mình lối sống khôn ngoan
Người đời thường nói: “Lời nói là bạc, im lặng là vàng”. Thinh lặng hơn nói, vì nói chỉ là bạc mà im lặng mới là vàng, là vàng thì bao giờ cũng quí hơn bạc. Như thế thinh lặng được ví như một chuẩn mực của đạo đức, một tiêu chí của khôn ngoan thông thái.
Thánh hiền có nói “Ngôn giả bất tri, tri giả bất ngôn” (Người không biết thì lại nói nhiều vì tưởng người khác không biết như mình, người biết thì lại ít nói vì nghĩ rằng mọi người đều biết”).
Trong thinh lặng đầy khôn ngoan, Thánh Giuse đã âm thầm bảo vệ che chở Đức Maria và nuôi dưỡng Hài Nhi Giêsu trong bầu khí ấm êm của một gia đình hợp pháp. Cho nên Heidegger mới khuyên chúng ta thực tập thinh lặng, bớt nói, bớt phát biểu, bớt bàn tán….không phải để ta nên ngu muội, vô tri, nhưng để cho tâm khảm suy nghĩ hoà quyện với sinh linh vạn vật, và chỉ khi đó chúng ta mới có thể thấu đạt hết mọi ngóc ngách, thông tường mọi thế thái, biến chuyển trong sự biểu đạt khôn cùng của nhân sinh, của nhiên giới.
Thinh lặng giúp ta nhận ra giới hạn của mình
Thinh lặng để thấu đạt được cái vô thường, cái bất biến, cái trường cửu của đất trời. Thinh lặng để thấu triệt được nội quan cũng như ngoại giới. Thinh lặng đễ thấy ta là nhỏ bé, là mong manh, là hạn hữu trong cái mênh mông, bao la, vô hạn của đất trời, của vũ trụ thường hằng và vô biên. Thinh lặng để chuyển tải nhiều hơn, để nghe nhiều hơn, để thấu đạt nhiều hơn.
Trong chính sự thinh lặng của đêm vắng, Thánh Giuse đã nhận ra được ý muốn của Chúa, lắng nghe được Lời Chúa nói. Phân biệt được điều gì đúng, điều gì sai và chọn lựa cách thế thực hiện như thế nào đẹp ý Chúa nhất. Vì thế ngài được gọi là “người công chính”: làm theo ý Chúa.
Hôm nay mừng lễ thánh Giuse, Bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam, bổn mạng của giới gia phụ (gia trưởng), bổn mạng của giáo họ Giuse và bổn mạng của nhiều ngừoi mang thánh hiệu Giuse. Chúng ta hãy cầu cùng thánh Giuse cho mỗi người thắm nhuần nhân đức thinh lặng cua thánh Giuse. Người ta nói người phụ nữ, tức các bà hay "ngồi lê đôi mách". Nhưng ngày nay có khi ngược lại "các ông hay ngồi lê đôi mách". Bởi vì các bà đi chợ về là ở nhà lo nấu cơm giặt giũ…còn các ông sáng sớm đã rủ nhau làm mấy xị súc miệng rồi, hoặc là ngồi quán càphê nói nhiều chuyện, đến trưa lại rủ rê tiếp làm một trận trưa, đến chiều làm một hiệp nữa, hết hiệp chính lại tiếp hiệp phụ còn đá thêm luân lưu. Mà ngồi bàn nhậu sao làm thinh được mạnh ai nấy nói. Lúc đầu nói ít càng uống càng nói nhiều lại nói lớn nữa. Cho nên làm sao thinh lặng cho nỗi. Vì vậy mà cầu xin thánh Giuse giúp mỗi người biết sống thinh lặng nội tâm, dành thì giờ cho Chúa, dành thì giờ cho nhau, lúc nào cần nói lúc nào cần thinh lặng.
Giữa cuộc sống hôm nay với biết bao thăng trầm, dòng chảy của cuộc sống vẫn áp đảo lôi cuốn ta , bao nhiêu thách thức về niềm tin, về lối sống, phương thức làm ăn, về những tu tưởng, đối nghịch với Tin Mừng, giá trị giữa cái đúng và sai, giữa điều chân thật và giả dối thật mong manh ta phải đứng về phía nào? Ta phải chọn lựa thế nào? Có lẽ ta hãy học thinh lặng như thánh Giuse, để lắng đọng tâm hồn, bình tĩnh lắng nghe tiếng Chúa nói. Khi nghe được tiếng Chúa, ta phải cương quyết chọn lấy cho mình con đường. Đó là con đường vâng phục thánh ý Thiên Chúa, con đường sống đức tin cách mạnh mẽ và truyền đạt đức tin cho con cái và con đường sám hối quyết tâm sửa đổi đới sống của mình cho phù hợp với Tin Mừng của Chúa. Amen.

L.m. G.B. Trương Đình Hà



[1] X. lamhong.org.

Đọc tiếp »

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

Thứ Tư Lễ Tro


Thứ Tư Lễ Tro
BÀI ĐỌC I: Ge 2, 12-18 /BÀI ĐỌC II: 2 Cr 5, 20 – 6, 2/ PHÚC ÂM: Mt 6, 1-6. 16-18
L.m. G.B. Trương Đình Hà

Thứ Tư Lễ Tro là ngày khởi đầu cho Mùa Chay thánh. Mùa chay kéo dài đúng 40 ngày trước Lễ Phục sinh nên còn được gọi là ngày “Đầu Mùa Chay” hay “Đầu Mùa ăn chay 40 ngày”. Gọi là Lễ Tro tại vì Hội Thánh có thói quen dùng tro đã được làm phép để ghi dấu lên trán của các tín hữu. Chúng ta cùng tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của Lễ Tro để rồi mỗi người có quyết tâm sám hối đổi mới con người mình khi bước vào mùa chay.
1. Nguồn gốc
- Bắt nguồn từ Cựu ước thời tiên tri Giôna, Chúa sai ông đến thành Ninivê, Giona kêu gọi dân sám hối vì chỉ còn 40 ngày nữa Chúa sẽ giáng phạt trên thành này. Dân chúng nghe lời vị tiên tri mặc áo nhặm, ăn chay từ người lớn đến trẻ con. Sách Giô-na thuật lại rằng: "Ông Giô-na bắt đầu vào thành, đi một ngày đường và công bố: ´Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ.` Dân Ni-ni-vê tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ. Tin báo đến cho vua Ni-ni-vê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro“ (Gn 3,4-6).
Với Ngôn Sứ Đa-ni-en: "Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu, rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van“ (Đn 9,3).
- Trong Tân Ước, khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu ăn chay trong sa mạc 40 đêm ngày và chịu ma quỷ cám dỗ (Mt 4, 1-11).
Ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội thời sơ khai, có hình thức sám hối công khai cho những người phạm một hay nhiều tội trọng công khai ảnh hưởng đến cộng đoàn. Đó là ngay từ đầu Mùa Chay, họ phải mặc trên mình một bộ áo vải thô, hay cũng còn được gọi là bộ quần áo thống hối. Những bộ quần áo này thường được dệt từ vỏ cây gai theo dạng rất thô sơ, giống như những chiếc bao bố. Bên cạnh đó, họ còn phải phủ tro hay rắc tro lên người. Tại Giáo hội Gallia, tức tại Pháp Quốc, dựa vào cảnh tượng A-đam và E-và bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng sau khi phạm tội (St 3tt), vào ngày thứ Tư Lễ Tro, những người mắc trọng tội sẽ tạm bị trục xuất ra khỏi nhà thờ. Và tới ngày thứ Năm Tuần Thánh thì những người đó mới lại được tái đón nhận vào trong nhà thờ, và từ đó mới được phép Rước Lễ.
Khoảng từ cuối thế kỷ thứ X, những tục lệ kể trên mất dần, thay vào đó, người ta tiến hành việc rắc tro lên đầu cho tất cả các tín hữu, trước hết là để thể hiện tình liên đới với các tội nhân sám hối.
2. Nghi thức xức tro có ý nghĩa như thế nào?
“Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Tro bụi là biểu tượng của sự dòn mỏng của con người, nay còn mai mất, nên khi nhận một ít tro, người tín hữu phải nhớ mình là kiếp phù du. Giúp nhắc nhở các tín hữu về nguồn gốc của mình “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật”.
Nghi thức xức tro cũng là khởi đầu của mùa thống hối, gợi nhớ cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Tro là dấu chỉ để mỗi người chúng ta đều nhìn nhận mình là tội nhân. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.
Tóm lại, mặc dù nguồn gốc của con người hèn kém như tro, như bụi đất nhưng con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu chuộc và sau này sẽ được sống lại để hưởng phúc đời. Vì vậy, hãy cố gắng ăn năn đền tội, lập công phúc để được hạnh phúc muôn đời.
3. Lễ Tro khởi đầu cho hành trình Mùa Chay: Hoán cải và đổi mới
Sứ điệp mùa chay 2019 ĐTC Phanxicô đã dạy:"Muôn loài thụ tạo hết sức mong mỏi con cái Thiên Chúa thực sự trở nên “những thụ tạo mới”. Vì “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5:17). Thật vậy, nhờ vào việc được mặc khải, chính loài thụ tạo có thể của hành một Cuộc Vượt qua, tự mở ra một trời mới đất mới (x. Kh 21: 1). Hành trình hướng đến Lễ Phục Sinh đòi hỏi chúng ta cần phải đổi mới diện mạo và tâm hồn của mình với tư là những người Kitô hữu thông qua việc ăn năn, hoán cải và tha thứ, ngõ hầu có thể sống trọn vẹn ân sủng dồi dào của Mầu nhiệm Vượt qua".
Trong mùa chay Giáo Hội khuyên các tín hữu thực hành ba việc đạo đức
3.1. Việc cầu nguyện
Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn. Cầu nguyện là trò chuyện với Chúa, gặp gỡ Chúa. Cầu nguyện đối với người kitô hữu như cá cần nước để sống. Khi cầu nguyện chúng ta bắt chước gương Đức Giêsu: Ngài cầu nguyện khắp mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh, nhất là trước những vấn đề hệ trọng.
Khi cầu nguyện chúng ta thi hành bổn phận Đức Giêsu dạy:
Ngài dạy chúng ta cầu nguyện theo Kinh Lạy Cha;
Ngài dạy chúng ta cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ;
Ngài dạy chúng ta cầu nguyện cho kẻ thù;
Ngài dạy chúng ta cầu nguyện để xua trừ ma quỷ, vì có những thứ quỷ chỉ có trừ được bằng cầu nguyện, như có lần Ngài nói:“Giống quỷ ấy chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi”(Mc 9,29).
Khi cầu nguyện nhắc nhở chúng ta sống tín thác vào Chúa. Đức Giêsu nói: “Không có Thầy các con không thể làm được việc gì?”(x. Ga 15,5). Vậy, chúng ta hãy xét mình lại về tinh thần cầu nguyện của chúng ta như thế nào? Cầu nguyện riêng? Cầu nguyện chung? Cầu nguyện trong gia đình, ở nhà thờ ? Cầu nguyện khi thành công? Cầu nguyện khi thất bại?…
3.2. Việc ăn chay
Nhằm giúp chúng ta làm chủ các ham muốn của xác thịt, thanh thoát tâm hồn, để hướng tới các điều thiện hảo và đặc biệt là để đền bù các tội lỗi của mình, cũng như có đủ sức mạnh cùng với ơn Chúa giúp thắng được những đam mê xấu. Giáo hội mời gọi chúng ta ăn chay.
Ăn chay theo luật bao gồm việc nhịn ăn và kiêng ăn.
Việc nhịn ăn: Trong ngày ăn chay không được ăn vặt, chọn một bữa ăn no, còn hai bữa kia chỉ được ăn vừa hoặc ăn ít.
Việc kiêng ăn: Kiêng ăn thịt loài máu nóng như thịt heo, gà, bò, vịt…Ngày hôm nay, Giáo hội chỉ buộc ăn chay trong hai ngày: Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh.
Ngoài ra, Giáo hội khuyến khích người kitô hữu ăn chay theo khả năng và hoàn cảnh của từng người. Giáo hội luôn mời gọi con cái mình ăn chay theo nhiều cách thế khác nhau. Chẳng hạn: giảm bớt tiêu xài; kiêng ăn uống say sưa; không nói xấu nói hành; không xem những bộ phim xấu, những tranh ảnh khiêu dâm, giảm bớt việc tổ chức đám tiệc, ngay cả lễ cưới cũng không nên tổ chức vào mùa chay…
3.3. Việc bố thí.
Một trong những ý nghĩa của việc ăn chay là bớt phần ăn của mình để làm phúc bố thí cho người nghèo. Vì vậy, việc ăn chay và bố thí luôn đi đôi với nhau.
Trong sứ điệp Mùa Chay năm 2017, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta: “Mùa chay là mùa thuận tiện để mở cửa cho tất cả những ai đang túng quẫn và nhận ra nơi họ khuôn mặt của Chúa Kitô.” Trong Tin mừng theo Thánh Mathêu, Đức Giêsu cũng cho chúng ta biết, khi làm phúc bố thí cho những kẻ bé mọn là làm cho chính Chúa, và đó cũng là điều kiện để được hạnh phúc Nước Trời. Vị Thẩm Phán mời gọi kẻ lành vào hưởng hạnh phúc Nước Trời bằng những lời thân thương sau đây: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thưở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta ngồi tù, các ngươi đã hỏi han”(Mt 25,35-36).
Ngày nay các biểu hiệu bên ngoài, như thống hối công cộng, như mặc áo nhậm, như đi chân không trong cuộc hành hương, vv. không còn được thực hiện như xưa, vì hoàn cảnh xã hội đổi thay, nhưng thái độ và ý chí thống hối, canh tân trở về vẫn phải in khắc sâu đậm trong thâm tâm mỗi người.
Mỗi người sẽ tự đưa ra cho mình một số những thực hành thống hối trong cuộc sống cụ thể để biểu lộ ý nghĩa và tinh thần của lễ nghi xức tro. Một số ví dụ để ứng dụng thực hành trong cuộc sống.
4. Ứng dụng thực hành
4.1. Thái độ
Dững dưng: “Đâu phải việc của tôi đâu mà tôi phải “xía” vào. Đổi thành quan tâm và tích cực hơn: “Tôi có thể giúp được gì không?”
Ôm đồm: “Không có tôi thì chẳng có ai làm được gì cả.” Đổi thành chia sẻ, cộng tác và thoát ly – không dính bén: “Tôi cần sự giúp đỡ của bạn.”
Hấp tấp – Nhiều người tự bào chữa rằng làm nhanh làm lẹ tức là nhanh nhẹ, tháo vác, sáng trí. Nhiều công việc kéo dài trì trệ vì hấp tấp. Đổi lại thành điềm đạm, thận trọng và nhẫn nại hơn.
Lê thê – chậm chạp cà rề. Nói cách khác, lười. Đổi lại thành phấn khởi, tổ chức và chủ động hơn.
4.2. Thói quen trong cuộc sống.
Dọn dẹp phòng ở hằng ngày.
Gìn giữ vệ sinh cá nhân thường xuyên: đầu tóc, quần áo, thân thể . . .
Tập thể dục thường xuyên để gìn giữ sức khỏe
Bớt ăn bớt uống.
Bỏ bớt những đam mê về phim ảnh, rượu bia, thuốc lá.
Đọc kinh cầu nguyện thường xuyên hơn
Đọc một đoạn Thánh Kinh mỗi ngày và suy niệm
Hành xử trong cuộc sống.
Thay vì âu sầu, đổi thành tươi vui với người.
Thay vì dửng dưng, đổi thanh niềm nở tiếp đón – chào hỏi người thân, khách lạ hoặc bạn đồng nghiệp.
Thay vì nói lại chuyện xấu của người khác – tức là phao đồn tin xấu, thì tìm những điều tốt để bàn thảo và noi theo.
Thay vì chê trách nhau, thì khen ngợi và cảm ơn nhau nhiều hơn.
Thay vì nói một lời có nhiều ngụ ý ám chỉ, thì nói lời đơn thành yêu mến, khích lệ người nghe.
Thay vì nói lời làm buồn lòng hoặc gây hoang mang, nghi kỵ và phân bì cho người nghe, thì ta quyết tâm nói những điều có lợi, tức là tạo niềm vui, bình an và tin tưởng cho người nghe.
4.3. Làm việc bác ái hoặc từ thiện
Đặt ra kế hoạch giúp đỡ người nghèo.
Để dành tiền lẽ, đồ hộp, quần áo, thức ăn khô, rồi chọn một ngày trong tháng, đem đến Nhà Xứ hoặc một cơ quan từ thiện nào đó để để trao tặng.


Đọc tiếp »