Hiển thị các bài đăng có nhãn Chia sẻ đề tài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chia sẻ đề tài. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2025

TĨNH TÂM BHG CHUẨN BỊ TUYÊN HỨA

 

TĨNH TÂM BHG CHUẨN BỊ TUYÊN HỨA – (Marco 10, 35-45)

TÂM HỒN TÔNG ĐỒ

Lm. Gioan B. Trương Đình Hà

Các tông đồ ngày xưa mới đầu theo Chúa cũng mang tâm trạng được theo Thầy là được vinh quang đươc ăn trên ngồi trước, được làm quan với chức tước. Và Chúa Giêsu huấn luyên các ông cần phải có tâm hồn tông đồ đich thật. 

1. Tâm hồn tông đồ trước hết là “uống chén Thầy sắp uống”, chén đắng của đau khổ, bị chống đối, bị mọi người ganh ghét, nói hành nói xấu, bôi nhọ đủ kiểu. Là chấp nhận hy sinh đau đớn tột cùng. Là chịu đóng đinh vào thập giá và chết, “chiụ phép rửa Thầy sắp chịu”là cái chết. Truyền thống kể rằng trong thời Hoàng đế Nêrô tại Roma, bắt đạo rất gắt gao. Quo Vadis là một tiểu thuyết lịch sử được sáng tác bởi văn hào Henryk Sienkiewicz, người Ba Lan. Quo Vadis trong tiếng Latinh có nghĩa là "Ngài đi đâu?". Câu hỏi này liên hệ quan đến một truyền thuyết Kitô giáo: Đang khi Phêrô chạy trốn để tránh khỏi việc bị kết án đóng đinh ở Rôma, Phêrô đã gặp Chúa Giêsu, ông hỏi Chúa: "Quo vadis, Domine?" ("Lạy Chúa, Ngài đang đi đâu?"), Chúa Giêsu trả lời: "Eo Romam crucifigi iterum" ("Ta vào thành Rôma để chịu đóng đinh một lần nữa") - ngụ ý nhắc nhở Phêrô phải can đảm tiếp tục sứ vụ của mình. Cuối cùng, Phêrô đã quay trở lại thành Rôma để chịu kết án và ông đã bị đóng đinh treo ngược. 

2. Tâm hồn tông đồ là ý thức mình là người phục vụ, phục vụ anh em, phục vụ trong các đoàn thể, các giới, dấn thân phục vụ theo gương Chúa Giêsu: “Ta đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” Thi sĩ Tagore (Ấn Độ) có viết: “Nằm ngủ, tôi mơ thấy đời là hạnh phúc. Thức dậy tôi thấy sống là phục vụ. Tôi dấn thân phục vụ và tôi khám phá ra rằng phục vụ là hạnh phúc.” Những ai dấn thân vào một công việc phục vụ nào đó đều có thể trải nghiệm được điều thi sĩ Tagore vừa chia sẻ. Việc phục vụ càng đòi hỏi dấn thân quên mình nhiều thì hạnh phúc mang lại càng lớn. Thế nên người phục vụ Đức Ki-tô, “Con Chí Ái” của Chúa Cha, từ bỏ chính mình để theo Ngài trên đường thập giá là người được hạnh phúc lớn nhất bởi vì sẽ được “Chúa Cha quý trọng” được Chúa Cha yêu mến, và đến ở trong người ấy (x. Ga 14,23).

Chúa mời gọi chúng ta tham gia vào sứ vụ của Chúa: Ban Thường Vụ, Ban Điều Hành họ, Các giới, các Hội đoàn, ca đoàn tất cả đều làm nên giáo hội của Chúa. Hiêp thông với thân thể mầu nhiệm của Chúa, ta phải càng có lòng yêu mén Chúa, yêu mến Giáo Hội.

        3. Tâm hồn Tông đồ đòi chúng ta: có lòng yêu mến Chúa trước hết "Phê rô con có yêu mến Thầy không? - dám Hy sinh – đòi chúng ta khiêm tốn – đòi chúng ta nhường nhịn – đòi chúng ta sống vị tha  – đòi chúng ta biết vâng phục vị chủ chăn của mình. Chúa Giê su vâng phục Chúa Cha, các tông đồ vâng phục Chúa Giêsu: “Vâng lời Thầy con sẽ thả lưới”, mà vâng lời Thầy là có cá, nếu không vâng lời Thầy, nếu con nghĩ con là những người thuyền chài thiện chiến con đã quần suốt đêm ở đó rồi Thầy biết gì mà xen vào, thì quả thật con sẽ không bao giờ có mẻ cá lớn. Đến lượt mình biết vâng phục vị chủ chăn của mình, bất cứ vị chủ chăn nào đến, đều là được Chúa sai đến, trước dây, hiện tại và sau này đều là hồng ân của Chúa, vì vậy mình là cánh tay nối dài, cộng tác với vị chủ chân để chăm sóc cộng đoàn giáo xứ mỗi ngày lớn mạnh trong đời sống đức tin, trong đời sống cầu nguyện và sống các Bí Tích.

4. Tâm hồn tông đồ đòi chúng ta sống biết quan tâm, biết chia sẻ trách nhiệm với anh chị em – đòi chúng ta sống hiệp nhất.

Một trong những ấn tượng sâu sắc nhất trong lịch sử các kỳ “thế vận bóng đá” (world cup), đó là hình ảnh “Cơn lốc màu da cam” và cuộc trình diễn ngoạn mục và đầy thuyết phục của chiến thuật “bóng đá tổng lực” được đội bóng của huấn luyện viên Rinus Michels, đội Hà Lan, thể hiện trên sân vận động Munchen Tây Đức trong trận chung kết mùa World cup 1974. Tôi đã đến thăm khu phức hợp này, và lên tháp cao Tower Olympic cao 290m. Và thang máy ở đây có tốc độ nhanh nhất thế giới lên cao 290m trong vòng 30 giây.

Gần như cho tới trước năm 1974, chiến thuật của hầu hết các đội bóng trên thế giới đều áp dụng, đó là “phân chia đội hình với các trách nhiệm cụ thể”: tiền đạo, tiền vệ, hậu vệ, thủ môn… ai lo phận nấy. Công việc ghi bàn để đem về chiến thắng quyết định hầu hết là dành cho các tiền đạo giỏi; và vì thế, những vận động viên nầy thường “tả xung hữu đột” gần như đơn độc trước hàng phòng ngự của đối phương…

Nhưng trong trận chung kết World cup 1974 thì khán giả thế giới đã mãn nhãn đến sững sờ, khi trên “thảm cỏ xanh của sân vận động thế vận Munchen (Olympiastation, Munchen)” bị tràn ngập, bao phủ bởi một “khối vàng cam” khi lên, khi xuống, khi tản ra, khi xúm lại, như một “cơn lốc” hoà quyện; đến độ, không ai có thể đoán được cầu thủ nào là tiền đạo, tiền vệ, trung vệ, hậu vệ ! Bởi vì, trừ thủ môn, cả 10 cầu thủ trên sân đều liên tục hoán chuyển cho nhau ở bất cứ vị trí nào, nhiệm vụ nào. Và đó chính là “bóng đá tổng lực” (Total Football), nghĩa là một chiến thuật đá bóng dựa trên lý thuyết căn bản: mọi cầu thủ đều tham gia như nhau, hết mình ở bất cứ vị trí nào, công cũng như thủ, được liên tục hoán chuyển, để làm nên một “sức mạnh tổng hợp”, toàn đội, chứ không chú trọng hoặc ỷ lại vào một ít “siêu sao”.

Với hình “Bóng đá tổng lực đó”, có thể diễn tả rõ ràng và cụ thể cho ý nghĩa “Hiệp Hành” mà Giáo Hội đang sống. Trong Giáo Hội chúng ta hôm nay, việc phối trí trách nhiệm, phân chia công tác… rất nhiều khi vẫn còn dựa trên “chiến thuật cũ”: mánh mung, đơn lẽ; kẻ làm chết xác, người nghỉ tà tà; đôi khi, một người ôm hết, chuyện gì cũng “bao cân”, hoặc quanh quẩn chỉ tin cẩn một số người thân tín, đến độ làm giáo dân nãn lòng, hết muốn cộng tác… ; và thế là cả cộng đoàn đi xuống, mệt mỏi, bệ rạc, phân rẽ…Đã có vị chia sẻ với tôi. Con làm một mình mở của nhà thờ bắt kinh viếng xác. Con vắng hai tuần là hai tuần đó đóng cửa nhà thờ (nhà thờ họ), vì cả ban cho công việc đó của ông phó nội nên không ai đên mở của nhà thờ nguyện kinh cả. Làm viêc Tông Đồ như vậy thị đáng buồn thật.

Như vậy làm việc với tinh thần tông đồ ta có sự phân chia, nhưng liên đới với nhau, đỡ nâng, chia sẻ công việc cho nhau, không ôm đồm, cũng không khoán trắng cho một người đảm nhiệm còn mình khoanh tay đứng nhìn.

Lời nguyện kết:

Lạy Chúa Giê su, chúng con cám ơn Chúa đã mời gọi chúng con tham gia vào sứ vụ tông đồ. Xin cho chúng con ý thức rằng việc làm tông đồ không phải do chúng con tự chọn, không phải do con muốn được chỗ này chỗ kia, ngồi vào chức vị này chức vị nọ; không phải do con giỏi giang, mà tất cả đều do ân ban của Chúa, Chúa yêu thương đoái nhìn và tuyển chọn con, cho con được góp một phần rất nhỏ vào sứ mạng tông đồ của toàn Giáo Hội. Xin cho con biết khiêm tốn đón nhận và vâng theo ý Chúa trong mọi sự . Amen.

 


Đọc tiếp »

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2025

Chúa Giêsu Linh Mục - Linh mục của Chúa Giêsu

 


Chúa Giêsu Linh mục - Linh mục của Chúa Giêsu

(Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngày xin ơn thánh hóa các linh mục)

 

L.m. G.B. Trương Đình Hà

 

Tháng sáu, theo lịch phụng vụ của Giáo Hội, tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, đặc biệt trong tháng sáu có lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu và trong ngày này toàn thể Giáo Hội cầu nguyện cho các linh mục, xin ơn thánh hóa các linh mục. Ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay lại trùng với ngày mừng kính thánh Gioan Tẩy Giả, cho tôi có thêm chút suy tư vì quả thực cuộc đời của Thánh Gioan Tẩy giả gắn liền với cuộc đời của Chúa Giêsu. Vì từ lúc thụ thai Gioan đã nhảy mừng rồi, Gioan đã gặp Chúa ngay trong lòng mẹ, khi Đức Mẹ đến viếng thăm. Rồi Gioan ra đời lớn lên sống trong hoang địa, Chúa Giêsu thì sống tại làng Nazareth, nhưng Gioan không ngừng hướng về Chúa Giêsu, vì cuộc đời của Gioan được báo trước là kẻ dọn đường cho Chúa, và chính khi Gioan xuất hiện làm phép rửa ở sông Giordan thì cũng đúng lúc Chúa Giêsu xuất hiện công khai. Vì thế tôi nghĩ đến sứ vụ Chúa Giêsu Linh mục, từ lúc Chúa xuất hiện tại sông Giordan như một  “lễ đăng quan” khởi đầu cho sứ vụ. Từ đó nhìn về cuộc đời các linh mục gắn liền với Chúa Giêsu Linh mục, từ lúc được Chúa chọn gọi và được Đức Giám Mục đặt tay, xức Dầu Thánh truyền chức. Xin được chia sẻ với chủ đề “Chúa Giêsu Linh mục và Linh mục của Chúa Giêsu”.

 

1. Chúa Giêsu Linh mục

Sứ vụ của Chúa Giêsu Linh mục khởi đầu công khai tại Sông Giordan, xin được trích đoạn Tin mừng thánh Maccô, vì thánh Maccô ghi khởi đầu Tin Mừng của Ngài cũng là khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu với biến cố Chúa chịu phép rửa ở sông Giordan (Mc 1, 1-11); (Mt 3, 13-17) ( Lc 3,21-22)

Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa:

Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

 Đúng theo lời đó, ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan.

Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. Ông rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.

 Hồi ấy, Đức Giê-su từ Na-da-rét miền Ga-li-lê đến, và được ông Gio-an làm phép rửa dưới sông Gio-đan. Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.

Nếu như được hư cấu một chút về lễ đăng quan của Chúa Giêsu Linh mục, tôi xin phép được hư cấu câu chuyện như sau:

Nhiều người Do Thái đọc thấy tờ bướm in trắng đen, mà chắc không phải in đâu, vì thời đó làm gì có máy in, chỉ viết tay thôi viết trên giấy vỏ cây mà chữ viết thật đẹp giống như in vậy. Họ chỉ thấy vỏn vẹn có mấy câu trên tờ bướm sau đây:

Lễ đăng quan của Linh mục Giêsu được tổ chức tại sông Giordan, xin mời mọi người đến tham dự.

Nhiều người cũng lấy làm lạ, lễ đăng quan gì lạ đời chẳng giống ai mà cũng chưa thấy ai. Phải tổ chức ở Đền Thờ Giêrusalem chứ, hay nghèo lắm thì cũng mượn một Hội đường của người Do Thái, đàng này đem ra sông Giordan tổ chức.

Rồi cũng không cho biết vị tiên tri nào đặt tay xức dầu. Sau lễ có tiệc mừng hay không cũng không thấy nói.

Mọi người đến đầy đủ tại bờ sông, chỉ có ông ngôn sứ “ăn châu chấu và uống mật ong rừng” đang làm công tác chuẩn bị cho mọi người.

Để chuẩn bị cho lễ đăng quang của Linh mục Giêsu, tất cả mọi người đều được mời gọi xuống dòng sông để Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho. Và từng người đến trước Gioan để chịu phép rửa sám hối. Có nhiều hạng người đến xin chịu phép rửa: những người Biệt phái, các luật sĩ, các vị kỳ lão trong dân, những người lính cũng đến xin Gioan làm phép rửa thống hối; nói chung là tất cả mọi người, đông lắm luôn! Và người ta trông đợi để thấy vị Giêsu đến để làm lễ đăng quan, nhưng mãi vẫn không thấy đâu.

Bỗng trong dòng người sắp hàng đến với Gioan để xin chịu phép rửa, Gioan phát hiện ra một người đến lượt ông, có lẽ ông đã sắp hàng từ sáng sớm giờ mới đến phiên ông. Gioan thấy Người liền nói:

- “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !”.

Nhưng người đó trả lời:

- “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”

Ông Gioan chiều theo mà làm phép rửa cho Người.

Rồi Gioan nói tiếp: “Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng đến sau tôi nhưng có trước tôi, tôi không xứng đáng cuối xuống cởi dây dép cho Người, chính Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Chúa Thánh Thần và trong lửa”.

Gioan cũng là người giới thiệu: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”. Lúc ấy, nhiều người ngạc nhiên la lên: Chết thật! Hóa ra ông ấy chính là Linh mục Giêsu.

Rõ ràng qua lời giới thiệu của Gioan, mọi người đã nhận ra Chúa Giêsu linh mục. Phần đầu lễ đăng quan này cũng lạ: có đoàn rước lúc đầu nhưng mọi người đều sắp hàng thinh lặng hồi tâm sám hối, không ai biết vị tân linh mục ở đâu hết, Vị này cũng sắp hàng đứng ngay trong hàng ngũ của họ với thái độ khiêm nhường thinh lặng.

Ai đã xức dầu tấn phong cho Chúa Giêsu:

Thánh Maccô ghi lại:

Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con." (Mc 1,10 - 11)

Như vậy, Chính Chúa Cha là Đấng xức Dầu Thánh Thần cho Chúa Giêsu và Chúa Cha cũng xác nhận rằng: Chúa Giêsu là con chí ái của Chúa Cha. Người đẹp lòng Cha và Chúa Cha hài lòng về Người.

Sau đó Người bắt đầu hành trình sứ vụ của Người bằng việc vào sa mạc ăn chay 40 đêm ngày.

 

2. Linh mục của Chúa Giêsu

Nhìn ngắm Chúa Giêsu Linh mục tối cao, linh mục hoàn hảo đẹp lòng Chúa Cha. Chính Chúa Giêsu lại ban thánh chức linh mục cho loài người, nên mới có các Linh mục của Chúa Giêsu.

- Chúa Giêsu ngay từ lúc xuất hiện công khai đón nhận sứ vụ Chúa Cha trao, bằng việc lội xuống dòng nước đồng hóa với anh chị em mình, hòa mình vào dòng người cùng đến xin Gioan làm phép rửa. Nói theo ngôn ngữ của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới lần thứ XVI thì Chúa Giêsu Hiệp Hành với dân Chúa. Chúa bước xuống dòng nước để thanh tẩy dòng nước, Chúa hòa mình với dòng người tội lỗi, đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, mọi hạng người, mọi ngành nghề để vực họ dậy, nâng họ lên, xóa tội cho họ, cứu độ họ.

Linh mục của Chúa Giêsu được Chúa mời gọi “Hãy theo Ta” và họ quyết định bước theo Chúa. “Hãy theo Ta” là lời mời gọi người môn đệ không những bước theo Chúa Giêsu, làm môn đệ của Chúa, dâng hiến cuộc đời của mình cho Ngài; mà còn là chấp nhận sống như Chúa Giêsu đã sống, hành động như Chúa Giêsu đã hành động, chịu đau khổ như Chúa Giêsu đã chịu đau khổ, chịu hiểu lầm, chống đối và cuối cùng chịu chết trên thập giá trần truồng, tan nát. Để rồi cùng được đi vào vinh quang phục sinh với Chúa Kitô. Vì thế, khởi đầu của sứ vụ linh mục cũng phải là khởi đầu của một cuộc đời giống Chúa Giêsu, xóa mình đi, cùng hòa vào trong dòng chảy của nhân loại, của mọi hạng người; cùng hiệp hành với anh chị em mình trên mọi nẻo đường: tội lỗi, đói nghèo, bệnh tật, lam lũ, đau thương. Tuy nhiên, trong thực tế, có khi chúng ta lại phân biệt chọn người để đến, để giao lưu, tiếp người đáng tiếp, lưu tâm đến một số người...còn lại số đông là đoàn chiên của linh mục nhưng có khi dường như bị bỏ rơi lại đàng sau, bị lãng quên.

Con xin chia sẻ một vài trường hợp, vừa rồi con có nghe một cuộc điện thoại của một bà cụ có lẽ cũng 80 rồi, cũng không ở trong xứ mình, bà gọi mừng bổn mạng. Bà nói vui vẻ con giờ già rồi chân bị đau đi không được nên không đến thăm mừng bổn mạng cha được nên gọi điện thoại, rồi bà cũng kể chuyện vừa rồi cha phó của con chuyển xứ khác con cũng gọi điện thoại hỏi thăm ngài và muốn đến thăm cha, dầu gì Ngài cũng ở với chúng con hai năm, giờ Ngài đi con muốn đến thăm chào cha. Thế rồi bà, dù đau chân cũng cố gắng đến để gặp cha phó, bà thấy cha đi trên hành lang bà gọi cha nhưng cha nói “tôi bận không có gặp bà”. Rồi cha bỏ đi, bà nói con quê quá cha, con đến chào cha mà cha hổng tiếp mình, con nghĩ chắc cha cũng bận, thôi con đi về không biêt cha phó con làm sao. Bà vừa nói vừa cười.

Một trường hợp khác, một người nói về việc xưng tội, có lẽ cũng xưng tội với một cha trẻ, cha phó rồi bị cha hạch hỏi và la trong tòa giải tội, bà nói con xưng tội mấy chục năm nay với các cha lớn tuổi ở đây, chưa bao giờ bị các cha hạch hỏi và la như vậy, bà vừa nói vừa khóc...

- “Đây Chiên Thiên Chúa”, Chúa Giêsu Linh mục là con chiên bị sát tế hiến dâng cho Thiên Chúa. Linh mục hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, là đồng số phận với con chiên bị sát tế, hiến dâng cho Thiên Chúa. Bước vào đời linh mục cũng là bước vào đời hiến tế, mọi ngày trong đời linh mục đều phải hiến tế trên bàn thờ. Như ngọn nến tan chảy, linh mục cũng phải tiêu hao cho đoàn chiên của mình, chết cho đoàn chiên của mình.

- “Đây Đấng xóa tội trần gian”. Chúa Giêsu chết để xóa tội cho trần gian, Người cũng ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ để tiếp nối sứ vụ của Ngài, và tiếp tục ban Chúa Thánh Thần trong chức Thánh Linh mục để các Ngài thay mặt Chúa ban ơn tha tội cho các tội nhân, để giao hòa thế gian với Thiên Chúa. “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. (Ga 20, 23)

Tin mừng Thánh Gioan 8, 1-11 nói về người phụ nữ ngoại tình, kể lại có một lần những người Kinh sư và Biệt phái đưa đến trước Chúa Giêsu một người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, mà theo luật Môsê thì người phụ nữ này phải bị ném đá chết. Những người Biệt phái muốn thăm dò thái độ của Chúa Giêsu trước việc giữ luật và trước một tội nhân vi phạm luật. Chúa Giêsu không nói gì hết, Ngài thinh lặng, nhưng vì họ cứ hỏi mãi nên Ngài nói: ai trong các ông sạch tội thì cứ việc ném đá người phụ nữ này trước đi, và họ bỏ đi hết kẻ trước người sau, bắt đầu từ người lớn tuổi, chỉ còn mình Chúa Giêsu với người phụ nữ, ngài hỏi: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.

Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng ngày 27/02/2018 tại nhà nguyện thánh Matta, ngài kể có một vị Hồng y trong một lần giải tội, ngài nghe tội nhân xưng một tội rất nặng, ngài không nhấn mạnh đến tội đó nhưng tiếp tục cuộc đối thoại nói đến tình yêu ơn tha thứ của Thiên Chúa. Điều này mở lối vào trái tim của hối nhân và họ cảm thấy sự bình an. Thiên Chúa cũng làm như thế với chúng ta, Người nói: “Đến đây, chúng ta thảo luận, nói chuyện. Hãy cầm lấy giấy chứng nhận tha thứ. Có ơn tha thứ.” Đức Thánh Cha Phanxico nói: “Thiên Chúa không mệt mỏi mời gọi mỗi người chúng ta thay đổi cuộc sống, đến với Người để hoán cải và Người mời gọi chúng ta với sự dịu dàng và tin tưởng của một ngừời cha. Các linh mục giải tội hãy làm như thế: không đe dọa, nhưng với sự dịu dàng và tạo nên lòng tin tưởng”[1]. Ngài nhắc nhở các cha giải tội trong tông huấn Evangelii Gaudium: “Tòa giải tội không phải là một phòng tra tấn nhưng là nơi của lòng Chúa thương xót…”[2] Các cha xứ không phải là một công chức, cũng không phải là người sở hữu những gì của Thiên Chúa, họ chỉ là những máng chuyển mà thôi.

 

Lời kết

Trong ngày lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu hôm nay, xin Chúa Giêsu thánh hóa các mục tử của Chúa. Xin Chúa giúp các Linh mục của Chúa Giêsu biết nổ lực hoán cải theo gương Chúa Giêsu linh mục, Đấng đến để cho chiên được sống và được sống dồi dào. Xin kết thúc phần chia sẻ với lời cầu nguyện cho các linh mục sau đây.

Lời nguyện cho các Linh Mục

 Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các Linh mục,
vì các ngài là của riêng Chúa,
đã tận hiến cả cuộc đời
để lo việc mở mang nước Chúa.

 Xin Chúa gìn giữ các Linh mục vì các ngài sống giữa đời
nhưng không thuộc về thế gian;
những lúc bị lạc thú trần gian cám dỗ
xin Chúa ấp ủ các Linh mục trong Trái Tim Ngài.

 Xin Chúa hãy gìn giữ và an ủi các Linh mục,
trong những lúc các ngài cô đơn sầu khổ;
khi suốt cả cuộc đời hy sinh cho các linh hồn
bị xem ra vô ích.

 Xin Chúa gìn giữ các Linh mục,
và xin Chúa thương nhớ, lạy Chúa,
các ngài không có ai chỉ trừ một mình Chúa thôi!
Các ngài chỉ có con tim của con người
với những mỏng dòn yếu đuối của nó.

 Xin Chúa giữ gìn các Linh mục trong trắng
như Mình Thánh Chúa mà hằng ngày các ngài nâng niu.

Xin Chúa thương chúc lành cho các Linh mục,
xin thánh hóa mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của các ngài. Amen!

 

24/06/2022

(Chia sẻ với các Linh mục giáo phận Bà rịa - Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu)



[1]. ĐTC Phanxico, Tòa giải tội là nơi tha thứ chứ không đe dọa, X. archivioradiovaticana.va 2018/2/27.

[2]. Tông Huấn Niềm vui của Tin mừng, 47.

Đọc tiếp »

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

Con Đường Đến Với Chúa Của Một Người Phật Tử

 

Tôi viết lại câu chuyện sau đây theo lời kể của chính người bạn, tôi có dịp đến thăm và ở lại với gia đình của họ trong một dịp hè ở Thành phố Ottawa - Canada 2009.



 CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI CHÚA CỦA MÔT NGƯỜI PHẬT TỬ

 Lm. Giang Hạ

         

          Ngay từ nhỏ Hạnh đã thiếu tình thương của ba mẹ, vì ba mẹ ly dị và Hạnh phải sống với bà. Đến năm 12 tuổi, gia đình cho Hạnh đi vượt biên. Tàu trôi dạt và cập vào đảo Galang. Hạnh bị cuốn hút vào dòng người trên tàu, bắt đầu cuộc sống ở trại tỵ nạn. Mọi người buộc phải hoà nhập với môi trường mới.

 

1. Cô bé Phật Tử ở Trại tỵ nạn Galang

Gia đình của Hạnh có truyền thống đạo Phật, nên ở trại tỵ nạn Hạnh đi lễ chùa và sinh hoạt với nhóm Gia đình Phật tử. Hạnh kể lại, một trong những hiểu biết lúc đó là Hạnh được nghe các anh huynh trưởng trong Gia đình Phật tử nói những điều không tốt về đạo Công giáo, đặc biệt là nói xấu các ông cha. Hạnh lúc đó còn nhỏ nghe sao tin vậy nên không thích đạo và không mấy thiện cảm với đạo Công giáo. Ở trại cũng có các cha và các soeur đến giúp. Có một soeur làm việc rất nghiêm khắc, thường hay la rày các trẻ em như Hạnh. Thấy soeur này dữ quá, nên gặp soeur là Hạnh lãnh ra xa không dám đến gần, vì thế Hạnh rất sợ «ma - xơ». Ngày tháng trôi qua mau, những người tỵ nạn được Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Người Tỵ Nạn cứu giúp. Họ liên hệ với các quốc gia tự do đón nhận những người tỵ nạn này, những ai có thân nhân ở các nước đều được bảo lãnh. Riêng Hạnh vì thuộc diện «mồ côi» nên cũng được bảo lãnh vào Canada. Lúc đó Hạnh không biết người bảo lãnh mình là ai. Hạnh cũng theo mọi người lên máy bay. Chuyến bay cất cánh đưa Hạnh cùng những người tỵ nạn rời đảo Galang đến Canada.

 

2. Canada



Sau khi làm thủ tục nhập cảnh, Hạnh theo đoàn người lấy hành lý bước ra khỏi nhà ga của phi trường. Quang cảnh phi trường thật nhộn nhịp, người đưa kẻ đón, người đến kẻ đi. Những dòng nước mắt chảy dài vì vui mừng của những người thân được đoàn tụ.  Trong số những người đến đón, Hạnh thấy có một người cầm tấm bảng ghi tên của mình, đó lại là một bà soeur người Canada. Hạnh vốn đã rất sợ các bà soeur; hình ảnh của bà soeur «dữ như bà chằn» ở trại tỵ nạn vẫn ám ảnh Hạnh, nay vừa bước xuống phi trường lại gặp một bà soeur ra đón bảo lãnh cho mình, Hạnh càng sợ hơn! Hạnh nghĩ thôi rồi! cuộc đời mình từ nay lại rơi vào tay của một «bà chằn lửa khác». Nỗi sợ hãi làm Hạnh òa khóc. Bà soeur tiến lại nắm lấy tay Hạnh, Hạnh càng khóc dữ dội, khóc nức nở, khóc tức tưởi. Bà soeur cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao con bé này gặp mình nó khóc dữ vậy, chắc là nó nhớ nhà, nhớ ba mẹ, anh chị em nó. Bà soeur dỗ một hồi Hạnh cũng bớt khóc mặc dù nghe bà soeur nói tiếng Pháp Hạnh không hiểu gì cả. Bà soeur đưa Hạnh về nhà dòng của bà và cuộc đời mới của Hạnh bắt đầu từ đây.

 

3. Nhà Dòng




Những ngày đầu bước chân đến nhà dòng, với không khí an bình, tĩnh lặng không giống với cảnh ồn ào ở bên ngoài, mọi thứ được sắp xếp thứ tự sạch sẽ. Hạnh cảm thấy cái gì cũng mới nên hơi lo; tuy vậy Mẹ Bề Trên Cộng đoàn, là soeur Marie, người bảo lãnh và đón Hạnh ở phi trường, nói với Hạnh rằng: «Ở đây con không phải làm gì cả, không giặc đồ, không nấu ăn, không rửa chén. Con chỉ có việc ăn và học. Chấm hết!». H… thích nhất điểm này vì lúc còn ở Việt nam, tuy còn nhỏ nhưng Hạnh cũng phải vất vả nấu ăn giặt đồ giúp mẹ. Rồi Hạnh bắt đầu học tiếng Pháp với các soeur. Có một lần Hạnh bị các soeur la vì chia sai động từ. Tánh của Hạnh cũng khá bướng nên quyết tâm học tiếng Pháp để cải lộn với mấy bà soeur. Vì thế mà vốn liếng tiếng Pháp của Hạnh ngày càng khá hơn và cũng quen dần với nếp sống yên bình thanh thản của các nữ tu.


Sống ở nhà dòng một thời gian, điều Hạnh cảm nhận trước tiên là các soeur rất thương Hạnh, đặc biệt là mẹ Bề Trên, bà không bao giờ la mắng Hạnh, bao giờ bà cũng tôn trọng và lắng nghe Hạnh. Hạnh thường so sánh với lối giáo dục ở Việt nam, người lớn thường hay nạt nộ, gắt gỏng, bắt con trẻ phải theo người lớn chứ ít khi lắng nghe và cho trẻ được tự do, nhất là ở miền quê. Hạnh nhận thấy các sơ đối xử với Hạnh còn hơn là cha mẹ của mình nữa. Chính vì vậy mà Hạnh muốn tự mình tìm hiểu xem đời sống các «ma - xơ» ra sao! và những gì trước đây Hạnh được nghe nói về đạo công giáo, về các cha, các soeur như vậy có đúng sự thật không! Hàng ngày, Hạnh thấy các soeur đi vào nhà nguyện tham dự thánh lễ, đọc các giờ kinh phụng vụ và viếng Chúa, nhưng Hạnh không vào nhà nguyện vì Hạnh là người Phật tử.

Một điều nữa làm Hạnh rất cảm kích mẹ Bề Trên, là Hạnh tỏ ý muốn đi chùa bà chở Hạnh đi ngay. Cứ như thế chủ nhật nào bà cũng chở Hạnh đến chùa và để Hạnh sinh hoạt với nhóm các anh chị phật tử ở Canada. Bà tôn trọng niềm tin và tôn giáo của Hạnh. Bà rất nhân từ với Hạnh, bà yêu thương và chăm sóc cho Hạnh. Tuy vậy vì cái tánh bướng bỉnh nên Hạnh thường im lặng mặc dù trong lòng đầy những ưu tư, nghi ngờ, băn khoăn về đạo cũng như chôn dấu nỗi buồn nhớ nhà và hoàn cảnh gia đình của mình. Hạnh chưa bao giờ tâm sự hay kể chuyện của mình cho mẹ Bề trên biết.

Có lần được cùng các soeur xem cuốn phim về cuộc đời của Chúa Giêsu, Hạnh thấy tội nghiệp cho Ông Giêsu, ông đâu có làm gì nên tội, ông chỉ làm phép lạ và cứu người thôi mà người ta đánh đập và giết ông. Mà ông đi chết làm chi vậy! Lúc này Hạnh chưa hiểu được tình yêu lớn lao và huyền nhiệm thập giá của Chúa Giêsu nên Hạnh suy nghĩ ngô nghê theo kiểu của một đứa bé.

 

4. Ánh sáng từ Thập Giá Chúa Giêsu



Vào một đêm kia, khi các soeur đi ngủ hết, Hạnh rón rén đi vào trong nhà nguyện một mình, vì tò mò muốn biết các soeur cầu nguyện như thế nào trong nhà nguyện này. Hạnh nhìn lên tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh. Lúc ấy Hạnh vẫn chưa biết Chúa Giêsu là ai, tự nhiên Hạnh rơm rớm nước mắt. Hạnh thấy tội nghiệp cho Ông Giêsu. Hạnh tự hỏi tại sao ông phải khổ như thế! Rồi Hạnh nghĩ đến thân phận của mình. Ở Việt nam, Hạnh có cha có mẹ nhưng lại như một đứa trẻ mồ côi. Hạnh một thân một mình đến Galang và cũng một thân một mình đến Canada. Càng nghĩ Hạnh càng khóc nhiều hơn và Hạnh bắt đầu nói với Chúa Giêsu: «Ông Giêsu ơi! Con không biết ông là ai, con cũng không biết gọi ông bằng gì nữa! Nhưng con muốn nói hết những uất ức trong lòng của con cho ông nghe». Vừa khóc Hạnh vừa nói những ưu tư trong lòng, những chuyện buồn, những hiểu lầm về đạo công giáo, nỗi nhớ nhà và những khó khăn Hạnh gặp phải…Có lẽ duy nhất Chúa Giêsu là người đầu tiên mà Hạnh đã tâm sự hết những ưu tư sâu kín trong lòng.

Thế rồi những đêm kế tiếp, khi các soeur đi ngủ hết, Hạnh lại một mình vào nhà nguyện, đôi mắt ngấn lệ nói chuyện mình với ông Giêsu: «Ông Giêsu ơi! Con thấy ông im lặng con không biết ông có nghe con không, nhưng con cũng cứ nói với ông…». Sau khi nói chuyện với ông Giêsu, Hạnh cảm thấy trong lòng nhẹ hẵn. Những u uất từ bao lâu nay như vơi bớt.

Một lần kia có một soeur thấy Hạnh trong nhà nguyện và thấy Hạnh khóc, bà để ý theo dõi Hạnh và nói với mẹ Bề Trên «sao em thấy con Hạnh nó vào nhà nguyện và nó khóc». Tuy vậy các soeur thường tôn trọng chuyện riêng tư của Hạnh nên không gạn hỏi nhiều. Chỉ có mẹ Bề Trên hỏi Hạnh có chuyện gì không, Hạnh nói với bà không có gì, và bà cũng không hỏi Hạnh nữa. Nhưng vào một buổi chiều, tự nhiên Hạnh thấy muốn nói với bà tất cả những nỗi niềm u uất trong lòng của mình. Hạnh đến bên mẹ Bề Trên và kể cho mẹ nghe tất cả tâm sự của mình, từ chuyện ba má Hạnh ly dị, Hạnh phải sống với bà, chuyện Hạnh đi vượt biên rồi sinh hoạt Gia đình Phật tử…về cái nhìn không mấy thiện cảm về đạo công giáo về các cha, các soeur…đến cả chuyện Hạnh sợ các bà soeur như thế nào. Tuy nhiên, bây giờ Hạnh mới tự tìm hiểu và khám phá ra sự thật không phải như vậy. Hạnh cảm thấy hối tiếc vì đã hiểu sai về đạo và quả thật là đã từng ghét các bà soeur. Sau giây phút tâm sự với mẹ Bề Trên, Hạnh cảm thấy lòng nhẹ tênh như trút được gánh nặng những ưu tư chồng chất bấy lâu nay.

Từ lúc đó, Hạnh càng thương mẹ Bề Trên hơn và tin tưởng bà, coi bà như một người mẹ thật sự của Hạnh . Cái nhìn ác cảm ngày xưa được thay bằng lòng kính trọng và tình thương mến. Hạnh nhận ra một điều chính mẹ Bề Trên đã chinh phục Hạnh, chính đời sống và cung cách đối xử nhân hậu của bà đã thay đổi não trạng của Hạnh.

 

 

5. Linh thao và Gặp Chúa

Một hôm, sau khi tan học ở trường về, các bạn Công giáo rủ Hạnh tham dự khoá linh thao. Hạnh chưa từng biết linh thao là gì nhưng cũng về xin Soeur Bề Trên cho Hạnh đi tham dự khoá linh thao. Bà Bề Trên này lạ thật, xin cái là bà cho liền; bà không hề hỏi lý do hay nói rằng đi làm gì vì con là phật tử chính hiệu con nai vàng ngơ ngác. Thế là lần đầu tiên Hạnh được tham dự khoá linh thao với cảm giác thật ngỡ ngàng. Trong những ngày linh thao Hạnh xúc động thật sự. Lời Chúa qua vị linh mục hướng dẫn giúp cho Hạnh hiểu rõ hơn ý nghĩa cuộc sống. Chúa Giêsu chính là sự sống và tình yêu,  hiểu được những gì phải làm, những gì nên tránh.  Thật sự là trước đây khi ở trong Gia đình Phật tử, Hạnh thấy giáo lý nhà Phật lơ mơ không rõ ràng.

Sau khi tham dự khoá linh thao trở về, dường như trong tâm hồn Hạnh có một sự biến đổi. Hạnh bắt đầu thích đi nhà thờ. Hạnh xin bà Bề Trên cho Hạnh đi nhà thờ, bà cũng đồng ý cho đi. Hạnh nghe cha xứ ở đó giảng thật hay và đánh động. Cứ thế chủ nhật nào Hạnh cũng thích đi nhà thờ để nghe cha giảng. Những nghi ngờ trước đây không còn nữa mà được thay thế bằng một niềm tin đơn sơ chân thành.

 

Hạnh bắt đầu xin học giáo lý công giáo và sau một thời gian học đạo, được lãnh nhận bí tích Rửa tội. H. nói ngày được Rửa tội cha xứ còn cười nói với Hạnh không được trở lại Phật tử nữa đó nghe! Hạnh nghĩ có Chúa thật sự trong cuộc đời này. Điều mà từ bao lâu nay H. chưa bao giờ biết và nghĩ tới. Từ nay H. tin rằng cuộc đời của H. có Chúa dẫn dắt. Tuy nhiên, một biến cố đau buồn đến với H. là sau ngày Hạnh được rửa tội thì mẹ Bề Trên được Chúa gọi về. Hạnh đau đớn như mất một người mẹ. Bởi vì chính bà như là người mẹ thứ hai đã mang đến cho H. cuộc sống mới và làm thay đổi cuộc đời của H. .

Rồi Hạnh lập gia đình với một người công giáo, nghe nói anh ấy là dân «ta ru»[1] và cả hai cùng sinh hoạt  trong ca đoàn nhà thờ.

Hiện tại, gia đình sống rất Hạnh phúc và có 3 đứa con: hai trai, một gái và sắp có thêm một đứa nữa. Hạnh kể: «Năm ngoái con bị bệnh nặng vì quá lo lắng cho chồng đang bị thất nghiệp; nên con mất ngủ, tinh thần sa sút trầm trọng, người con ốm tong ốm teo. Một buổi sáng con thức dậy, người choáng váng, không đi nỗi, phải gọi xe cấp cứu đưa vào bệnh viện gấp. Khi nằm ở bệnh viện con có cảm giác mình sắp chết. Tự nhiên trước cái chết con sợ quá chừng, con nói với Chúa «Chúa ơi! Con chưa muốn chết, con chưa muốn chết. Chúa đừng cho con chết lúc này nghe Chúa! và Chúa cho con sống đến hôm nay».

 

6. Gia đình Công giáo



Hôm đầu tiên tôi đến nhà anh chị Kh. H, sau khi ăn tối, anh chị và mấy đứa nhỏ ngồi chung quanh  trong phòng khách. Anh chị đốt một cây nến để ở giữa và bắt đầu buổi cầu nguyện. Chị làm dấu và nói với đứa lớn nhất cầu nguyện trước, rồi lần lượt đến hai đứa nhỏ cầu nguyện sau. Nó cầu nguyện như thế này: «Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì Chúa đã cho con có ba, có mẹ. Chúa cho con có nhà để ở, có xe để đi, có thức ăn, có áo quần để mặc, có trường để học, có các Cha đến thăm…». Sau đó anh chị cầu nguyện và sau cùng tôi cũng cầu nguyện và chúc lành cho gia đình. Tôi nói với anh chị buổi đọc kinh tối gia đình rất dễ thương, cố gắng giữ để tập cho các con có lòng tin và yêu mến Chúa. Giờ kinh tối cũng là bài học giáo lý căn bản đơn sơ bắt đầu từ trường “giáo lý gia đình”. Lời Chúa và những mầu nhiệm trong đạo sẽ thấm vào lòng trẻ thơ qua những lời kinh đơn sơ. Đó chính là kinh nghiệm của tôi khi còn nhỏ. Tối nào ba mẹ cũng đọc kinh và bắt tôi đọc kinh. Những lời kinh đó đã thấm vào trong ký ức của tôi, mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc. Một trong những kinh đó là kinh «Kính nguyện Chúa Thánh Thần» ba tôi rất thích đọc vào mỗi thứ hai đầu tuần, đọc theo giọng miền Trung, «Kính (a) nguyện (a) Chúa (a) Thánh (a) Thần, Cực thánh Ngôi Ba Thiên Chúa. Ơn thiêng liêng cứu đời, nguyện trông hiện xuống phàm gian, sáng nhiệm bởi trời, xin thấu thửa lòng chúng tử yến thiêng…». Ngày đó tôi vẫn đọc thuộc lòng mà không hiểu gì cho đến khi tôi vào học ở Đại Chủng viện Sài gòn tôi mới biết đó là kinh «Veni Sancte Spiritus» mà phụng vụ Giáo Hội vẫn đọc trong ca tiếp liên ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. "Lạy Chúa Thánh Thần Xin Ngài ngự đến, và từ trời cao xin tỏa ánh quang minh của Ngài ra. Lạy Cha kẻ cơ bần, xin Ngài ngự đến, Đấng ban ân huệ, Đấng soi sáng tâm hồn, xin ngự đến! Lạy Đấng an ủi tuyệt vời, là khách trọ hiền lương của tâm hồn, là Đấng ủy lạo dịu dàng. Chúa là sự nghỉ ngơi trong cảnh lầm than, là niềm an ủi lúc lệ rơi..."

 

***

 

 

 

Kết

Qua câu chuyện của chị Hạnh tôi nhận ra tình yêu vô bờ của Chúa trong hành trình đức tin của chị. Tình yêu cứu độ phổ quát của Chúa dành cho hết mọi người không loại trừ một ai và Chúa luôn đi bước trước, luôn có sáng kiến. Khi yêu ai mình cũng có sáng kiến tìm cách đến với người đó. Chúa cũng vậy, Chúa yêu con người Chúa cũng tìm cách đến với con người. Chúa đã dùng những cách thế và những hoàn cảnh đặc biệt trong cuộc sống của từng người; những cách thế đôi khi con người không thể hiểu được để cuối cùng hướng họ đến ơn cứu độ. Tôi cũng thấy trong hành trình đức tin của anh chị em, có sự đồng hành của nhiều người, đó là mối dây hiệp thông trong lòng Giáo Hội, mối dây hiệp thông sâu xa bắt nguồn từ chính Chúa Ba Ngôi. Những người bạn trẻ đã mời người bạn của mình đi tham dự khoá linh thao một cách hồn nhiên đơn sơ trong tình bạn chân thành. Tuy nhiên, với cái nhìn đức tin, có thể nhận ra tác động của Chúa Thánh Thần qua các bạn trẻ và lời mời gọi của họ. Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong lòng Giáo Hội. Suốt cuộc đời, bà mẹ Bề Trên chắc đã hoàn thành được nhiều sứ mệnh, trong đó việc giúp tái sinh bé Hạnh là một điểm son. Hình ảnh và cách sống, cách đối xử của Mẹ Bề Trên đối với Hạnh như là cách thể hiện của phương pháp sư phạm mới mẻ cho việc truyền giáo ngày hôm nay: Đón nhận, lắng nghe, cảm thông, tôn trọng, yêu thương. Cuộc hành trình đức tin của chị Hạnh là một chứng từ sống động, qua đó ta thấy rõ bàn tay Chúa quan phòng dẫn đưa, mỗi người một cách. Đồng thời, để thực hiện chương trình cứu độ của Ngài; Chúa cũng cần sự cộng tác của mỗi người chúng ta.  

 

Chúa gọi tên con

Từ câu chuyện của người bạn trên đây, tôi suy tư về ơn gọi được làm người và làm con Chúa của mỗi người Kitô hữu và cám ơn Chúa về ơn gọi linh mục của mình. Tất cả đều xuất phát từ tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Dòng suy tư đã cho tôi cảm hứng dệt thành  nhạc khúc: Chúa gọi tên con, như là lời nguyện cầu khép lại câu chuyện chia sẻ này.

 

 

 

Lạy Chúa!

Chúa tìm con khi con không tìm Chúa.

Chúa biết con khi con chưa biết Chúa.

Chúa gọi con khi con đang hờ hững.

Chúa ơi! Nay con biết rằng

Chúa rất nhân từ, Chúa quá yêu con.

Lạy Chúa!

Chúa chờ con khi con không đợi Chúa.

Chúa thấy con khi con không thấy Chúa.

Chúa gặp con khi con đang lẫn trốn.

Chúa ơi! Con như chiên lạc

Chúa đưa con về, Chúa vác trên vai.

Lạy Chúa!

Chúa chọn con khi con không chọn Chúa.

Chúa yêu con khi con chưa yêu Chúa.

Chúa ở bên con khi con xa lìa Chúa.

Chúa ơi! Nay con hiểu rồi,

trong trái tim Người, Chúa đã khắc tên con.

 

Chúa đến với con,

Chúa gọi tên con trong tiếng gió chiều thì thào.

Chúa đến với con,

Chúa gọi tên con trong nắng ấm ban mai.

Chúa đến với con,

Chúa gọi tên con trong tấm lòng người mẹ.

Chúa đến với con,

Chúa gọi tên con trong trái tim yêu thương.

 

Lm. Giang Hạ

(mùa hè tại Ottawa - Canada

tháng 09/2009)

 

 


 



 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] "ta ru" nói lái thành "tu ra", ý nói người tu xuất.

Đọc tiếp »