Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên đề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên đề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2025

Chúa Giêsu Linh Mục - Linh mục của Chúa Giêsu

 


Chúa Giêsu Linh mục - Linh mục của Chúa Giêsu

(Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngày xin ơn thánh hóa các linh mục)

 

L.m. G.B. Trương Đình Hà

 

Tháng sáu, theo lịch phụng vụ của Giáo Hội, tháng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, đặc biệt trong tháng sáu có lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu và trong ngày này toàn thể Giáo Hội cầu nguyện cho các linh mục, xin ơn thánh hóa các linh mục. Ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay lại trùng với ngày mừng kính thánh Gioan Tẩy Giả, cho tôi có thêm chút suy tư vì quả thực cuộc đời của Thánh Gioan Tẩy giả gắn liền với cuộc đời của Chúa Giêsu. Vì từ lúc thụ thai Gioan đã nhảy mừng rồi, Gioan đã gặp Chúa ngay trong lòng mẹ, khi Đức Mẹ đến viếng thăm. Rồi Gioan ra đời lớn lên sống trong hoang địa, Chúa Giêsu thì sống tại làng Nazareth, nhưng Gioan không ngừng hướng về Chúa Giêsu, vì cuộc đời của Gioan được báo trước là kẻ dọn đường cho Chúa, và chính khi Gioan xuất hiện làm phép rửa ở sông Giordan thì cũng đúng lúc Chúa Giêsu xuất hiện công khai. Vì thế tôi nghĩ đến sứ vụ Chúa Giêsu Linh mục, từ lúc Chúa xuất hiện tại sông Giordan như một  “lễ đăng quan” khởi đầu cho sứ vụ. Từ đó nhìn về cuộc đời các linh mục gắn liền với Chúa Giêsu Linh mục, từ lúc được Chúa chọn gọi và được Đức Giám Mục đặt tay, xức Dầu Thánh truyền chức. Xin được chia sẻ với chủ đề “Chúa Giêsu Linh mục và Linh mục của Chúa Giêsu”.

 

1. Chúa Giêsu Linh mục

Sứ vụ của Chúa Giêsu Linh mục khởi đầu công khai tại Sông Giordan, xin được trích đoạn Tin mừng thánh Maccô, vì thánh Maccô ghi khởi đầu Tin Mừng của Ngài cũng là khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu với biến cố Chúa chịu phép rửa ở sông Giordan (Mc 1, 1-11); (Mt 3, 13-17) ( Lc 3,21-22)

Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa:

Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

 Đúng theo lời đó, ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan.

Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. Ông rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.

 Hồi ấy, Đức Giê-su từ Na-da-rét miền Ga-li-lê đến, và được ông Gio-an làm phép rửa dưới sông Gio-đan. Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.

Nếu như được hư cấu một chút về lễ đăng quan của Chúa Giêsu Linh mục, tôi xin phép được hư cấu câu chuyện như sau:

Nhiều người Do Thái đọc thấy tờ bướm in trắng đen, mà chắc không phải in đâu, vì thời đó làm gì có máy in, chỉ viết tay thôi viết trên giấy vỏ cây mà chữ viết thật đẹp giống như in vậy. Họ chỉ thấy vỏn vẹn có mấy câu trên tờ bướm sau đây:

Lễ đăng quan của Linh mục Giêsu được tổ chức tại sông Giordan, xin mời mọi người đến tham dự.

Nhiều người cũng lấy làm lạ, lễ đăng quan gì lạ đời chẳng giống ai mà cũng chưa thấy ai. Phải tổ chức ở Đền Thờ Giêrusalem chứ, hay nghèo lắm thì cũng mượn một Hội đường của người Do Thái, đàng này đem ra sông Giordan tổ chức.

Rồi cũng không cho biết vị tiên tri nào đặt tay xức dầu. Sau lễ có tiệc mừng hay không cũng không thấy nói.

Mọi người đến đầy đủ tại bờ sông, chỉ có ông ngôn sứ “ăn châu chấu và uống mật ong rừng” đang làm công tác chuẩn bị cho mọi người.

Để chuẩn bị cho lễ đăng quang của Linh mục Giêsu, tất cả mọi người đều được mời gọi xuống dòng sông để Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho. Và từng người đến trước Gioan để chịu phép rửa sám hối. Có nhiều hạng người đến xin chịu phép rửa: những người Biệt phái, các luật sĩ, các vị kỳ lão trong dân, những người lính cũng đến xin Gioan làm phép rửa thống hối; nói chung là tất cả mọi người, đông lắm luôn! Và người ta trông đợi để thấy vị Giêsu đến để làm lễ đăng quan, nhưng mãi vẫn không thấy đâu.

Bỗng trong dòng người sắp hàng đến với Gioan để xin chịu phép rửa, Gioan phát hiện ra một người đến lượt ông, có lẽ ông đã sắp hàng từ sáng sớm giờ mới đến phiên ông. Gioan thấy Người liền nói:

- “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !”.

Nhưng người đó trả lời:

- “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”

Ông Gioan chiều theo mà làm phép rửa cho Người.

Rồi Gioan nói tiếp: “Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng đến sau tôi nhưng có trước tôi, tôi không xứng đáng cuối xuống cởi dây dép cho Người, chính Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Chúa Thánh Thần và trong lửa”.

Gioan cũng là người giới thiệu: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”. Lúc ấy, nhiều người ngạc nhiên la lên: Chết thật! Hóa ra ông ấy chính là Linh mục Giêsu.

Rõ ràng qua lời giới thiệu của Gioan, mọi người đã nhận ra Chúa Giêsu linh mục. Phần đầu lễ đăng quan này cũng lạ: có đoàn rước lúc đầu nhưng mọi người đều sắp hàng thinh lặng hồi tâm sám hối, không ai biết vị tân linh mục ở đâu hết, Vị này cũng sắp hàng đứng ngay trong hàng ngũ của họ với thái độ khiêm nhường thinh lặng.

Ai đã xức dầu tấn phong cho Chúa Giêsu:

Thánh Maccô ghi lại:

Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con." (Mc 1,10 - 11)

Như vậy, Chính Chúa Cha là Đấng xức Dầu Thánh Thần cho Chúa Giêsu và Chúa Cha cũng xác nhận rằng: Chúa Giêsu là con chí ái của Chúa Cha. Người đẹp lòng Cha và Chúa Cha hài lòng về Người.

Sau đó Người bắt đầu hành trình sứ vụ của Người bằng việc vào sa mạc ăn chay 40 đêm ngày.

 

2. Linh mục của Chúa Giêsu

Nhìn ngắm Chúa Giêsu Linh mục tối cao, linh mục hoàn hảo đẹp lòng Chúa Cha. Chính Chúa Giêsu lại ban thánh chức linh mục cho loài người, nên mới có các Linh mục của Chúa Giêsu.

- Chúa Giêsu ngay từ lúc xuất hiện công khai đón nhận sứ vụ Chúa Cha trao, bằng việc lội xuống dòng nước đồng hóa với anh chị em mình, hòa mình vào dòng người cùng đến xin Gioan làm phép rửa. Nói theo ngôn ngữ của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới lần thứ XVI thì Chúa Giêsu Hiệp Hành với dân Chúa. Chúa bước xuống dòng nước để thanh tẩy dòng nước, Chúa hòa mình với dòng người tội lỗi, đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, mọi hạng người, mọi ngành nghề để vực họ dậy, nâng họ lên, xóa tội cho họ, cứu độ họ.

Linh mục của Chúa Giêsu được Chúa mời gọi “Hãy theo Ta” và họ quyết định bước theo Chúa. “Hãy theo Ta” là lời mời gọi người môn đệ không những bước theo Chúa Giêsu, làm môn đệ của Chúa, dâng hiến cuộc đời của mình cho Ngài; mà còn là chấp nhận sống như Chúa Giêsu đã sống, hành động như Chúa Giêsu đã hành động, chịu đau khổ như Chúa Giêsu đã chịu đau khổ, chịu hiểu lầm, chống đối và cuối cùng chịu chết trên thập giá trần truồng, tan nát. Để rồi cùng được đi vào vinh quang phục sinh với Chúa Kitô. Vì thế, khởi đầu của sứ vụ linh mục cũng phải là khởi đầu của một cuộc đời giống Chúa Giêsu, xóa mình đi, cùng hòa vào trong dòng chảy của nhân loại, của mọi hạng người; cùng hiệp hành với anh chị em mình trên mọi nẻo đường: tội lỗi, đói nghèo, bệnh tật, lam lũ, đau thương. Tuy nhiên, trong thực tế, có khi chúng ta lại phân biệt chọn người để đến, để giao lưu, tiếp người đáng tiếp, lưu tâm đến một số người...còn lại số đông là đoàn chiên của linh mục nhưng có khi dường như bị bỏ rơi lại đàng sau, bị lãng quên.

Con xin chia sẻ một vài trường hợp, vừa rồi con có nghe một cuộc điện thoại của một bà cụ có lẽ cũng 80 rồi, cũng không ở trong xứ mình, bà gọi mừng bổn mạng. Bà nói vui vẻ con giờ già rồi chân bị đau đi không được nên không đến thăm mừng bổn mạng cha được nên gọi điện thoại, rồi bà cũng kể chuyện vừa rồi cha phó của con chuyển xứ khác con cũng gọi điện thoại hỏi thăm ngài và muốn đến thăm cha, dầu gì Ngài cũng ở với chúng con hai năm, giờ Ngài đi con muốn đến thăm chào cha. Thế rồi bà, dù đau chân cũng cố gắng đến để gặp cha phó, bà thấy cha đi trên hành lang bà gọi cha nhưng cha nói “tôi bận không có gặp bà”. Rồi cha bỏ đi, bà nói con quê quá cha, con đến chào cha mà cha hổng tiếp mình, con nghĩ chắc cha cũng bận, thôi con đi về không biêt cha phó con làm sao. Bà vừa nói vừa cười.

Một trường hợp khác, một người nói về việc xưng tội, có lẽ cũng xưng tội với một cha trẻ, cha phó rồi bị cha hạch hỏi và la trong tòa giải tội, bà nói con xưng tội mấy chục năm nay với các cha lớn tuổi ở đây, chưa bao giờ bị các cha hạch hỏi và la như vậy, bà vừa nói vừa khóc...

- “Đây Chiên Thiên Chúa”, Chúa Giêsu Linh mục là con chiên bị sát tế hiến dâng cho Thiên Chúa. Linh mục hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, là đồng số phận với con chiên bị sát tế, hiến dâng cho Thiên Chúa. Bước vào đời linh mục cũng là bước vào đời hiến tế, mọi ngày trong đời linh mục đều phải hiến tế trên bàn thờ. Như ngọn nến tan chảy, linh mục cũng phải tiêu hao cho đoàn chiên của mình, chết cho đoàn chiên của mình.

- “Đây Đấng xóa tội trần gian”. Chúa Giêsu chết để xóa tội cho trần gian, Người cũng ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ để tiếp nối sứ vụ của Ngài, và tiếp tục ban Chúa Thánh Thần trong chức Thánh Linh mục để các Ngài thay mặt Chúa ban ơn tha tội cho các tội nhân, để giao hòa thế gian với Thiên Chúa. “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. (Ga 20, 23)

Tin mừng Thánh Gioan 8, 1-11 nói về người phụ nữ ngoại tình, kể lại có một lần những người Kinh sư và Biệt phái đưa đến trước Chúa Giêsu một người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang, mà theo luật Môsê thì người phụ nữ này phải bị ném đá chết. Những người Biệt phái muốn thăm dò thái độ của Chúa Giêsu trước việc giữ luật và trước một tội nhân vi phạm luật. Chúa Giêsu không nói gì hết, Ngài thinh lặng, nhưng vì họ cứ hỏi mãi nên Ngài nói: ai trong các ông sạch tội thì cứ việc ném đá người phụ nữ này trước đi, và họ bỏ đi hết kẻ trước người sau, bắt đầu từ người lớn tuổi, chỉ còn mình Chúa Giêsu với người phụ nữ, ngài hỏi: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.

Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng ngày 27/02/2018 tại nhà nguyện thánh Matta, ngài kể có một vị Hồng y trong một lần giải tội, ngài nghe tội nhân xưng một tội rất nặng, ngài không nhấn mạnh đến tội đó nhưng tiếp tục cuộc đối thoại nói đến tình yêu ơn tha thứ của Thiên Chúa. Điều này mở lối vào trái tim của hối nhân và họ cảm thấy sự bình an. Thiên Chúa cũng làm như thế với chúng ta, Người nói: “Đến đây, chúng ta thảo luận, nói chuyện. Hãy cầm lấy giấy chứng nhận tha thứ. Có ơn tha thứ.” Đức Thánh Cha Phanxico nói: “Thiên Chúa không mệt mỏi mời gọi mỗi người chúng ta thay đổi cuộc sống, đến với Người để hoán cải và Người mời gọi chúng ta với sự dịu dàng và tin tưởng của một ngừời cha. Các linh mục giải tội hãy làm như thế: không đe dọa, nhưng với sự dịu dàng và tạo nên lòng tin tưởng”[1]. Ngài nhắc nhở các cha giải tội trong tông huấn Evangelii Gaudium: “Tòa giải tội không phải là một phòng tra tấn nhưng là nơi của lòng Chúa thương xót…”[2] Các cha xứ không phải là một công chức, cũng không phải là người sở hữu những gì của Thiên Chúa, họ chỉ là những máng chuyển mà thôi.

 

Lời kết

Trong ngày lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu hôm nay, xin Chúa Giêsu thánh hóa các mục tử của Chúa. Xin Chúa giúp các Linh mục của Chúa Giêsu biết nổ lực hoán cải theo gương Chúa Giêsu linh mục, Đấng đến để cho chiên được sống và được sống dồi dào. Xin kết thúc phần chia sẻ với lời cầu nguyện cho các linh mục sau đây.

Lời nguyện cho các Linh Mục

 Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các Linh mục,
vì các ngài là của riêng Chúa,
đã tận hiến cả cuộc đời
để lo việc mở mang nước Chúa.

 Xin Chúa gìn giữ các Linh mục vì các ngài sống giữa đời
nhưng không thuộc về thế gian;
những lúc bị lạc thú trần gian cám dỗ
xin Chúa ấp ủ các Linh mục trong Trái Tim Ngài.

 Xin Chúa hãy gìn giữ và an ủi các Linh mục,
trong những lúc các ngài cô đơn sầu khổ;
khi suốt cả cuộc đời hy sinh cho các linh hồn
bị xem ra vô ích.

 Xin Chúa gìn giữ các Linh mục,
và xin Chúa thương nhớ, lạy Chúa,
các ngài không có ai chỉ trừ một mình Chúa thôi!
Các ngài chỉ có con tim của con người
với những mỏng dòn yếu đuối của nó.

 Xin Chúa giữ gìn các Linh mục trong trắng
như Mình Thánh Chúa mà hằng ngày các ngài nâng niu.

Xin Chúa thương chúc lành cho các Linh mục,
xin thánh hóa mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của các ngài. Amen!

 

24/06/2022

(Chia sẻ với các Linh mục giáo phận Bà rịa - Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu)



[1]. ĐTC Phanxico, Tòa giải tội là nơi tha thứ chứ không đe dọa, X. archivioradiovaticana.va 2018/2/27.

[2]. Tông Huấn Niềm vui của Tin mừng, 47.

Đọc tiếp »

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

Lời loan báo tuyệt vời cho mọi người trẻ

 

L.m. Gioan B. Trương Đình Hà

 

 

 

 

 

 

LỜI LOAN BÁO TUYỆT VỜI

CHO MỌI NGƯỜI TRẺ

 

 

Tìm hiểu học hỏi

Tông Huấn Christus Vivit

(Chúa Kitô đang sống)

Của Đức Thánh Cha Phanxicô

 

 

 

Chia sẻ thường huấn - Linh mục giáo phận Bà Rịa

Tháng 05/2021

Dẫn nhập

Tông Huấn Christus Vivit của Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành vào ngày 25 tháng 3 năm 2019, được coi là Tông Huấn đúc kết của Thượng Hôi Đồng Giám Mục thế giới về người trẻ."Người trẻ, đức tin và việc phân định ơn gọi" được tổ chức tại Vatican từ ngày 3 đến ngày 28 tháng 10 năm 2018. Tông Huấn gồm có 9 chương với 299 số, trong đó 4 số đầu như dẫn nhập vào Tông Huấn và số 299 như một mong ước gửi đến người trẻ để kết thúc Tông Huấn.

Có thể thấy Tông huấn của ĐTC Phanxicô như một bức tâm thư gửi đến người trẻ, với những lời đầy thân tình, yêu thương và gần gũi.

Bài chia sẻ này được khép góc với chủ đề: Lời loan báo tuyệt vời cho mọi người trẻ, chương 4 (từ số 111-133):

Có thể nói chương bốn là chương trọng tâm của Tông Huấn, chương này có 22 số. Nội dung chương này, Đức Thánh Cha nói với giới trẻ điều quan trọng, ưu tiên hàng đầu, điều không bao giờ được bỏ qua. Đó là một lời loan báo gồm ba chân lý trọng đại: Thiên Chúa là tình yêu, Đức Kitô cứu độ con, và Đức Kitô đang sống. ĐTC cũng nói về Chúa Thánh Thần là Thần Khí ban sự sống (130)

1. Chân lý thứ nhất: Thiên Chúa là tình yêu

Thiên Chúa yêu chúng ta, rằng chúng ta đừng bao giờ nghi ngờ điều đó, cho dù bất cứ điều gì xảy ra trong đời ta, bất cứ hoàn cảnh nào, ta cũng được Chúa yêu thương vô tận. (112)

Thiên Chúa Cha khác với một người cha trần thế, có thể các bạn trẻ từng có kinh nghiệm về một người cha thống trị và chiếm hữu, một người cha có thể không quan tâm đến con mình. Nhưng Thiên Chúa là một người Cha mà các bạn trẻ có thể an tâm lao vào vòng tay của Người. Nơi Người các bạn tìm được sự sống vì Người là sự sống và tiếp tục trao ban sự sống của Người mọi lúc, Người sẽ nâng đỡ và hoàn toàn tôn trọng tự do của bạn. (113)

1.1. Tình yêu của Thiên Chúa đa dạng và phong phú

ĐTC đã chứng minh chân lý Thiên Chúa là tình yêu và Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu của Ngài bằng nhiều cách thức khác nhau được diễn tả trong Kinh Thánh:

- Một tình yêu gần gũi, thân mật như cha mẹ yêu thương chơi đùa với con cái mình: “Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng. Ta xử với chúng như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má” (Hs 11,4 ).

- Tình yêu Thiên Chúa cũng sánh ví với tình yêu của người mẹ không thể bỏ con mình:

“Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.” (Is 49,15). Vậy mà khi xem tin tức hàng ngày có nhiều người mẹ đã bỏ con mình, vụ xảy ra gần đây ở Hà Nội, được báo chi loan tin trong tuần qua, vào khoảng 17h50 phút, tối ngày 18/8, người dân trú tại nhà trọ số 45 phố Đào Nguyên A, thị trấn Trâu Quỳ đã bất ngờ phát hiện bé sơ sinh bị bỏ rơi dưới khe giữa 2 tường của 2 dãy nhà trọ. Bé trai sơ sinh có trọng lượng khoảng 2,2kg. Bé được sơ cứu tại Trạm y tế thị trấn Trâu Quỳ và sau đó, sơ cứu, cắt rốn và tắm tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lâm. Theo báo Người lao động ngày ngày 25/4/2019 tại nhà máy xử lý rác tại Cà Mau đã phát hiện trên 300 thai nhi bị vứt bỏ trong những cái hủ.

- Một tình yêu tha thiết đến nỗi họa hình người yêu trên lòng bàn tay: “Hãy xem, Ta đã ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta” (Is 49,16).

- Một tình yêu mạnh mẽ bền vững “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay” (Is 54,10).

Thiên Chúa cho chúng ta thấy rằng, chúng ta không hiện diện trong trong thế giới này như một sự tình cờ mà là ngay từ nguyên thủy chúng ta đã có mặt trong kế hoạch yêu thương của Chúa “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng chung thủy của Ta” (Gr 31, 3).

Tình yêu của Thiên Chúa sâu thẳm, được diễn tả như một người yêu thật sự nhìn thấy vẻ đẹp của người mình yêu mà không ai nhận ra “Vì trước mắt Ta, ngươi thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương” (Is 43:4). Triết gia Socrates có người vợ bị chột mắt, ông nói rằng nhìn em rồi anh thấy tất cả các phụ nữ khác đều dư một con mắt. Nghĩa là ông nhận ra vẻ đẹp nơi người vợ chột mắt của mình mà không có ai nhận ra.

Trong cuộc sống đễ thấy tình yêu của con người có thể mờ nhạt, buồn tẻ và hay đổi thay, nhưng Thiên Chúa cho ta thấy tình yêu của Ngài luôn mới mẻ, không tẻ nhạt và đầy hoan hỉ mỗi khi chúng ta đến với Chúa “ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh, là Đấng anh hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi. Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng” (Sp 3,17).

1.2. Tình yêu của Thiên Chúa quãng đại

Tình yêu Của Chúa không lưu giữ tội lỗi của ta, nhưng là một tình yêu xóa đi những lỗi lầm thiếu sót của ta. Con người đối với Chúa thật quý giá vì là công trình tạo dựng của Ngài. (115)

ĐTC mời gọi giới trẻ hãy tin vào :trí nhớ của Thiên Chúa", trí nhớ của Chúa không phải như một "ổ cứng" (hard disk) chỉ ghi nhận và lưu giữ. Trí nhớ của Chúa là một con tim đày nhân ái, dịu dàng và thương cảm. Ngài vui mừng ôm chúng ta vào lòng như hình ảnh của người cha nhân hậu, và xóa đi tất cả những vết tích, tội lỗi, hư hỏng của chúng ta. Thiên Chúa không muốn nhớ đến những sai lỗi của ta. Ngài luôn giúp chúng ta học được điều gì đó từ những vấp ngã của mình. Bởi vì Ngài yêu ta, hãy dành những phút giây thinh lặng để tựa đầu vào ngực Chúa và buông mình trong vòng tay yêu thương của Chúa (115).

1.3. Tình yêu không áp đặt hay đè bẹp

"Đó là tình yêu của Chúa, một tình yêu mọi ngày, kín đáo và tôn trọng, một tình yêu tự do và giải thoát, một tình yêu chữa lành và nâng dậy. Đó là tình yêu của Chúa, Đấng biết nhiều về việc nâng lên hơn là đạp xuống, về việc hòa giải hơn là cấm đoán, về việc trao ban cơ hội mới thay vì lên án, nhìn đến tương lai hơn là về quá khứ”[1]. (116) Còn tình cảm của con người với lối hành xử thường hay đi ngược lại với cách hành xử của tình yêu của Thiên Chúa.

1.4. Tình yêu của Thiên Chúa chân thực và cụ thể

Tình yêu của Chúa ban cho ta một mối quan hệ đầy đối thoại chân thành và hiệu quả (117)

Thiên Chúa đã để ta đối diện với những thách đố trong cuộc đời, đó là lúc Chúa mong chúng ta để cho Ngài thúc đẩy, động viên và giúp ta trưởng thành. Trong sách Sáng thế có nói đến cuộc vật lộn của Giacóp với Thiên Chúa (St 32, 25-31) cho thấy Thiên Chúa muốn con người đối thoại trực tiếp với Ngài.

2. Chân lý thứ hai: Đức Kitô cứu độ con

ĐTC đã triển khai trong nhãn quang cứu độ học.

- Vì yêu thương ta, Chúa Kitô đã hiến mình đến chết để cứu độ ta. Đôi tay của Người dang ra trên thập giá là dấu chỉ cao quý nhất của một tình bạn đi đến cùng Người yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người đã yêu họ cho đến cùng” (Ga 13: 1). Thánh Phaolô cũng khẳng định điều đó “Hiện nay tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, là Ðấng đã yêu thương tôi và đã hiến mạng sống Mình vì tôi” (Gal 2:20).

Ngày nay, các bạn trẻ thường bị lôi cuốn vào những lý thuyết khác, những tôn giáo khác cũng có những bậc thánh hiền, dễ đi đến cào bằng mọi giá trị "đạo nào cũng là đạo" mà quên đi Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất. Vì vậy ĐTC đã giúp người trẻ sống mạnh ơn cứu độ do Đức Kitô mang đến. Nếu Đức Kitô đã cứu thoát chúng ta khỏi tội lỗi nhờ hiến tế thập giá của Ngài thì hôm nay chính nhờ quyền năng tự hiến ấy, Ngài tiếp tục cứu độ và chuộc tội chúng ta. Các con hãy nhìn lên Thánh Giá của Người, bám chặt lấy Người, để Người cứu chúng con, bởi vì “những ai đón nhận ơn cứu độ của Người, được Người giải thoát khỏi tội lỗi, buồn rầu, cô lập và trống rỗng nội tâm”.[2] Và nếu các con phạm tội và lạc xa Người, Người sẽ đến nâng các con dậy bằng quyền năng Thập Giá của Người. Đừng bao giờ quên rằng “Người tha thứ bảy mươi lần bảy. Hết lần này đến lần khác Người lại đến để vác chúng ta trên vai của Người. (119)

- Trong cõi nhân sinh, không ai có thể tha tội chỉ trừ một mình Thiên Chúa. Vì Chúa yêu ta nên Chúa đã cứu ta khỏi tội. Tinh yêu Chúa lơn hơn tất cả những mâu thuẫn, những yếu đuối và nhỏ nhen ích kỷ của ta. Khi ta sa ngã, sức mạnh của ơn tha thứ bằng máu cứu độ của Chúa đủ sức nâng ta chỗi dậy và đổi mới tâm hồn ta. ĐTC nói Vì sự sa ngã tồi tệ nhất, là sự sa ngã có thể tiêu hủy cuộc đời chúng ta, chính là nằm yên dưới đất mà không để cho ai giúp đỡ mình[3]. (120). Chúng ta có thể thấy tư tưởng tương tự của Socrates: "Ngã xuống không phải là thất bại. Thất bại đến, khi bạn ở nguyên nơi mình ngã" (Falling down is not a failure. Failure comes when you stay where you have fallen - Socrates).

- Như thế ơn cứu độ và sự tha thứ của Chúa trên Thập giá là điều lớn lao vô cùng mà người ta không thể nào mua được hoặc đạt được bằng nổ lực của mình; hoặc cũng không thể lấy gì đáp đền. Nói như Á Thánh Anrê Phú Yên "lấy tình yêu đáp lại tình yêu, lấy mạng sống báo đền mạng sống". Ta chỉ có thể đón nhận với lòng biết ơn vô hạn.

- Từ lòng biết ơn đó ĐTC dẫn người trẻ suy tư về chính mình, con người mình rất qúy giá vì được Cứu Độ bằng máu châu báu của Chúa Kitô; vì thế người trẻ phải nổ lực và đề phòng đừng để mình bị dụ dỗ và trở thành món đồ để bán đấu giá, bị nô lệ hóa bởi những ý thức hệ và tư tưởng xa lạ để rồi trở thành những kẻ nô lệ, nghiện ngập và cuộc đời hư hỏng. Ngài giúp các bạn trẻ sống mạnh mẽ can đảm nói lên rằng: Tôi không phải là đồ bán đấu giá, tôi vô giá. Tôi là người tự do! Chính ơn cứu độ của Chúa giải thóat con người khỏi nô lệ tội lỗi và làm cho con người được tự do. Vì vậy các bạn trẻ hãy quý sự tự do mà Chúa Giêsu ban tặng (122)

 - Với ơn cứu độ Chúa ban, các bạn  hãy luôn đến với bí tích Hòa Giải để mình được cứu độ hết lần này đến lần khác, hãy vững tin vào lòng thương xót của Chúa và để mình được tẩy sạch và đổi mới tâm hồn bằng máu cứu độ của Chúa. (123)

3. Chân lý thứ ba: Chúa Kitô đang sống

ĐTC nhấn mạnh vì Đức Kitô là Đấng Cứu Độ nên Người đang sống, chân lý này gắn liền với chân lý trước. ĐTC nhấn mạnh bởi vì chúng ta có nguy cơ coi Chúa Giêsu Kitô chỉ như một gương sáng trong quá khứ, như một kỷ niệm, như một Đấng đã cứu chúng ta hai ngàn năm về trước. (124) ý tưởng này nhắc nhớ chúng ta điều gì? Đó chính là Tuyên Ngôn Dominus Jesus của Hồng y Joseph Ratzinger, sau này là ĐTC Benedictô XVI, (được ĐTC Gioan Phaolô II phê chuẩn ngày 6-8-2000). Chúng ta cũng nên quay lại để nhắc nhớ một chút về Tuyên Ngôn này.

3.1. Tuyên ngôn Dominus Jesus

Bản Tuyên Ngôn Dominus Jesus đã tuyên xưng lại niềm tin của Giáo Hội : Tính cách duy nhất của Chúa Kitô và tính cách duy nhất của Giáo Hội. Duy nhất nhưng phổ quát, hoàn vũ. «Vì tính cách duy nhất của Thiên Chúa, của Chúa Kitô và của Giáo Hội sẽ làm chói sáng tính cách phổ quát của Tình Yêu, của đức tin và của ơn cứu rỗi mà Chúa Kitô mang đến trong thế giới.»[4]

Lý do có Tuyên ngôn là vì xuất hiện các khuynh hướng của các thần học gia hiện đại, đặc biệt các thần học gia Á Châu có tính rộng rãi bao dung tôn giáo. "Khi sống chung và tiếp xúc với các tôn giáo khác tại Á Châu, nhiều thần học gia Á Châu nhận ra rằng:

– Các tôn giáo khác cũng có một nền giáo lý thâm sâu, kỳ diệu, với những bộ kinh điển rất tuyệt vời, càng khám phá càng cảm thấy sự sâu xa ẩn bí của chúng mà đầu óc con người khó có thể nghĩ ra được. Các tín đồ các tôn giáo này cũng tin rằng những kinh điển ấy là do chính Thượng Đế mạc khải cho họ qua các tác giả viết kinh (chẳng hạn trong Ấn giáo, Hồi giáo, Cao Đài giáo…)

– Tôn giáo nào cũng chủ trương phải giác ngộ một Thực Tại Tối Hậu có những thuộc tính căn bản như Thiên Chúa của Kitô giáo: tự hữu, không sinh không diệt, tuyệt đối, duy nhất, vô biên, siêu việt, không thay đổi, làm nền tảng hiện hữu cho tất cả muôn loài vạn vật, v.v… Thực Tại Tối Hậu ấy chỉ khác với Thiên Chúa của Kitô giáo ở một vài thuộc tính như: có ngôi vị chứ không phải vô ngã vị, tạo dựng chứ không phải thể hiện thành vạn vật, đầy yêu thương chứ không phải vô tình đối với vạn vật, toàn thiện chứ không phải siêu việt thiện ác…

– Những giáo lý hay kinh điển ấy cũng có khả năng giáo hóa dân chúng rất cao và hữu hiệu, không phải chỉ về mặt luân lý mà còn về mặt tâm linh. Chính nhờ có các tôn giáo như Ấn, Phật, Khổng, Lão, mà một thế giới «phi Kitô giáo» như Á Châu, mới có được một đời sống tâm linh cao, và một nền luân lý tốt đẹp như hiện nay, không đến nỗi quá kém so với thế giới «Kitô giáo» của Âu châu.

– Trong thực tế, các tôn giáo ấy đã đào tạo nên biết bao con người rất tuyệt vời, khá hoàn hảo, sáng suốt, vị tha, dũng cảm, nhiều khả năng hy sinh… Rất nhiều người đã tìm được ý nghĩa của đời sống, cảm thấy được giải thoát khỏi những ràng buộc trần thế, và sống một cuộc đời rất siêu thoát nhờ giáo lý vi diệu của những tôn giáo ấy.

Vì thế, nhiều thần học gia Á Châu đã có những khuynh hướng mềm dẻo, bao dung, chấp nhận và đề cao các tôn giáo ấy như những cách nhìn khác với Kitô giáo về Thiên Chúa – vốn có thể được nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau theo quan niệm thực tại đa diện – và cũng có khả năng cứu độ con người. Và cứ theo lẽ ấy, đương nhiên các vị giáo chủ của các tôn giáo ấy cũng là những đấng cứu độ thế giới"[5].

Tuyên ngôn Dominus Jesus mô tả những khuynh hướng rộng rãi đó như sau: «Trong suy tư thần học hiện đại thường xuất hiện một lối suy tư về Chúa Giêsu thành Nazareth cho rằng Người là một nhân vật lịch sử đặc thù và hữu hạn, đã mạc khải Thiên Chúa không phải bằng một phương cách độc nhất, nhưng bằng một phương cách bổ túc cho những nhân vật có tính cách mạc khải và cứu độ khác. Mầu Nhiệm Vô Hạn, Sự Tuyệt Đối, và Cơ Bản của Thiên Chúa như vậy tự phơi bày cho nhân lọai bằng nhiều cách và qua nhiều khuôn mặt lịch sử: Chúa Giêsu thành Nazareth chỉ là một trong những khuôn mặt này. Cách chắc chắn hơn, đối với nhiều người, Chúa Giêsu là một trong nhiều khuôn mặt mà Ngôi Lời đã mặc lấy trong giòng thời gian để liên lạc với nhân loại trong phương thức cứu độ.» (Dominus Jesus số 9 §1). Tuyên ngôn nói thêm: «Hơn nữa, để biện minh cho tính phổ quát của ơn cứu độ Kitô giáo cũng như sự đa dạng tôn giáo, có người đã đề nghị rằng có một công trình khác của Ngôi Lời hằng hữu vừa vững vàng và ngoài Hội Thánh và không liên hệ gì đến Hội Thánh, cộng với công trình của Ngôi Lời Nhập Thể. Công trình thứ nhất này có giá trị phổ quát hơn công trình thứ hai, là công trình chỉ giới hạn trong các Kitô hữu, mặc dù Thiên Chúa hiện diện cách hoàn bị hơn trong công trình thứ hai này» (Dominus Jesus, số 9, §2).

+ Quan niệm thần học vừa nói trên có khuynh hướng coi Đức Giêsu chỉ là một trong nhiều khuôn mặt vĩ đại đem lại nguồn mạc khải và cứu độ của Thiên Chúa. Điều này chắc chắn làm giảm thiểu hoặc xóa bỏ tính duy nhất trong vai trò cứu độ của Đức Giêsu. Để điều chỉnh lại quan niệm quá rộng rãi này, tuyên ngôn Dominus Jesus xác quyết rằng: "Những thuyết này hoàn toàn trái ngược với đức tin Kitô giáo. Giáo lý đức tin mà chúng ta phải tin cách chắc chắn rằng Chúa Giêsu thành Nazareth, con của Mẹ Maria, và chỉ mình Người, là Con và là Ngôi Lời của Chúa Cha. Ngôi Lời, là Đấng “từ nguyên thuỷ đã ở cùng Thiên Chúa” (Ga 1:2) cùng là một Đấng “đã làm người” (Ga 1:14). Trong Chúa Giêsu, “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống: (Mt 16:16), “Trong Đức Kitô, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Col 2:9). Người là “Con Một Đức Chúa Cha, là Đấng ở trong cung lòng Đức Chúa Cha” (Ga 1:18), “Con yêu dấu của Ngài, trong Người chúng ta có ơn cứu độ... Trong Người sự sung mãn của Thiên Chúa vui ngự, và nhờ Người, Thiên Chúa vui lòng hoà giải mọi sự với Ngài, dưới đất và trên trời, cho chúng ta được bình an nhờ máu Người đổ ra trên Thánh Giá” (Col 1:13-14; 19-20).  (Dominus Jesus số 10, §1)

– «Tương tự, chúng ta phải tin chắc vào học thuyết đức tin về tính duy nhất của công trình cứu độ của Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi, mà mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể là nguồn gốc và trung tâm của nó.» (Dominus Jesus, số 11, §1).

– Thánh Kinh nói rõ: «Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, là con người, Đức Giêsu Kitô Đấng tự hiến và làm giá chuộc mọi người (1Tm 2, 4-6)» (Dominus Jesus, số 13, §3). «Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta nhờ vào đó mà được cứu độ (Cv 4,12)» (Dominus Jesus, số 13, §2).

– «Phải tin vững vàng như một chân lý đức tin Công giáo, là ý muốn cứu độ phổ quát của một Thiên Chúa Ba Ngôi được ban tặng và hoàn thành dứt khoát một lần trong mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh của Con Thiên Chúa» (Dominus Jesus, số 14, §1).

3.2. Chúa Kitô Đấng Đang Sống

Như thế, ĐTC Phanxicô một lần nữa nhấn mạnh cho chúng ta: "Đấng đổ đầy ân sủng của Người trên chúng ta, Đấng giải thoát chúng ta, Đấng biến đổi chúng ta, Đấng chữa lành và an ủi chúng ta là Đấng còn đang sống. Người là Đức Kitô Phục Sinh, tràn đầy sức sống siêu nhiên, được phục sức trong ánh sáng vô tận. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô đã khẳng định: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì đức tin của anh em ra vô ích” (1 Cor 15: 17). (124)

- Nếu như Ngươi đang sống thì Người hiện diện trong cuộc đời của con ở mọi nơi mọi lúc. Như vậy sẽ không bao giờ còn cô đơn và bị bỏ rơi nữa. Ngay cả khi mọi người bỏ đi, Người sẽ ở đó, như Người đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Người lấp đầy mọi sự bằng sự hiện diện vô hình của Người, và các con đi bất cứ nơi nào, Người sẽ chờ đợi các con ở đó. Bởi vì Người không những đã đến mà còn đang đến và sẽ tiếp tục đến mỗi ngày để mời các con tiến bước đến một chân trời luôn luôn mới. (125)

- Hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu với niềm hạnh phúc và tràn ngập niềm vui. Hãy vui mừng với Người Bạn đã chiến thắng. Họ đã giết Đấng Thánh, Đấng công chính, Đấng vô tội, nhưng Người đã chiến thắng. Sự dữ không có lời cuối. Ngay cả trong cuộc đời các con, sự dữ sẽ không có lời cuối, bởi vì các con có một Người Bạn yêu thương các con và muốn chiến thắng trong các con. Cứu Chúa của các con đang sống! (126)

- Nếu như Người đang sống,  thì đó  chính là một đảm bảo rằng sự tốt lành có thể đi theo cuộc đời chúng ta, và những nỗ lực của chúng ta không ra vô ích.

+ ĐTC kết thúc chân lý thứ ba, Chúa Kitô Đang Sống bằng việc chỉ cho người trẻ và cho chúng ta, nếu như chúng ta để Chúa Kitô gặp gỡ chúng ta và chúng ta tìm gặp Đức Kitô mỗi ngày để Ngài yêu thương và cứu độ, đi vào tình bằng hữu với Chúa bắt đầu sống cụ thể Lời Ngài thì đây quả là một kinh nghiệm tuyệt vời nền tảng cho đời sống Kitô Hữu và có thể thông truyền lại cho người khác: Bởi vì “là một Kitô hữu, không phải là kết quả của một một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao cả, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, là điều mang đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định”[6]. (129)

Để kết - Thần Khí ban sự sống

Trong bốn số 130 -133, ĐTC nói về Chúa Thánh Thần như là nguyên lý hiệp nhất của Ba Ngôi. Khi nói về ba chân lý: Thiên Chúa yêu con, Đức Kitô là Đấng Cứu Độ con, Đức Kitô đang Sống đều có Chúa Cha và Chúa Con, mà ở đâu có Chúa Cha, Chúa Con thì cũng có Chúa Thánh Thần.

Vì vậy ĐTC nhắc nhở chúng ta hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng chuẩn bị và mở rộng tâm hồn để đón nhận sứ điệp này, chính Ngài là Đấng giữ cho hy vọng cứu độ này được sống, chính Ngài là Đấng sẽ giúp các con lớn lên trong niềm vui này nếu các con để cho Ngài hoạt động. Chúa Thánh Thần đổ đầy quả tim của Đức Kitô Phục Sinh và từ đó, như một suối nguồn, đổ vào đời sống các con. Và khi các con nhận được Chúa Thánh Thần, Ngài làm cho các con càng ngày càng đi sâu vào con tim của Đức Kitô, để các con có thể lớn lên trong tình yêu, ánh sáng và quyền năng của Ngài. (130)

 

 

NỘI DUNG

 

Dẫn nhập. 3

1. Chân lý thứ nhất: Thiên Chúa là tình yêu. 3

1.1. Tình yêu của Thiên Chúa đa dạng và phong phú  4

1.2. Tình yêu của Thiên Chúa quãng đại 6

1.3. Tình yêu không áp đặt hay đè bẹp. 6

1.4. Tình yêu của Thiên Chúa chân thực và cụ thể. 7

2. Chân lý thứ hai: Đức Kitô cứu độ con. 7

3. Chân lý thứ ba: Chúa Kitô đang sống. 10

3.1. Tuyên ngôn Dominus Jesus. 10

3.2. Chúa Kitô Đấng Đang Sống. 15

Để kết - Thần Khí ban sự sống. 16

 

 



[1] ĐGH. PHANXICÔ, Huấn Từ Khai Mạc Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXXIV tại Panama (24 tháng 1, 2019)L’Osservatore Romano, 26 tháng 1, 2019, 12.

[2] ĐGH. PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium (24 tháng 11, 2013), 1: AAS 105 (2013), 1019. Xem Bản tiếng Việt tại: http://www.giaoly.org/vn/tong-huan-niem-vui-cua-tin-mung-i/.

[4] Cardinal Pierre Eyt, Introduction de la Déclaration Dominus Jesus, p. XI.

[5] Cf. Nguyễn Chính Kết, Phải hiểu và hành xử thế nào khi tuyên xưng "Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất?

[6]ĐGH. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est (25 tháng 12, 2005), 1: AAS 98 (2006), 217.


Đọc tiếp »

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

Thất đạo hiệp hành - Lm. Jos. Trương Đình Hiền

 

THẤT ĐẠO HIỆP HÀNH

(Bảy “con đường hiệp hành” trong áp dụng mục vụ)

 

Dẫn nhập:

 

            Ngày 10.10.2021, tại Giáo đô Rôma, Giáo Hội hoàn vũ đã long trọng khai mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục thường kỳ lần thứ XVI mà chủ đề được chọn làm tâm điểm để nghị trình trong suốt tiến trình Thượng Hội Đồng (tháng 10/2021 – tháng 10/2023) đó là: HƯỚNG TỚI MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH: HIỆP THÔNG, THAM GIA VÀ SỨ VỤ[1].

            Trước hết, khái niệm “hiệp hành” (synodality, synodalité) không phải là mới trong kho tàng tư tưởng và ngôn ngữ của Hội Thánh. Riêng tại Việt Nam, để dịch nghĩa từ “Synodality” (Anh ngữ), “Synodalité” (Pháp ngữ) sang tiếng Việt thì có một số người với một số từ được chọn dịch như:

- Dịch giả Vũ Văn An: dùng từ “Đồng Nghị”[2] hoặc “Đồng Bộ”[3].

- Dịch giả Lê Công Đức: dùng từ “Liên Hợp”[4].

- Một dịch giả ẩn danh: dùng từ “Hội Đồng”[5].

            Riêng từ “Hiệp Hành” được HĐGMVN sử dụng lần đầu tiên trong bản dịch Việt ngữ tông huấn Christus Vivit (Chúa Kitô đang sống) với bản dịch của Đức Giám Mục Luy Nguyễn Anh Tuấn và nhóm hiệu đính HĐGMVN: Một mục vụ mang tính hiệp hành (synodalité): Mục vụ giới trẻ phải mang tính “hiệp hành” (synodale), nghĩa là có khả năng liên kết trong “một hành trình chung”, điều đó bao hàm “sự quý trọng các đặc sủng mà Chúa Thánh Thần ban cho mỗi thành viên trong Giáo Hội theo ơn gọi và vai trò của mình, đồng thời sẽ thúc đẩy mọi thành viên tham gia gánh vác trách nhiệm. […] (CKTĐS 206). Và hôm nay, từ “Hiệp Hành” được sử dụng cách chính thức và thường xuyên trong các văn bản liên quan đến Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI: “Hướng đến một Giáo Hội hiệp hành”.

 

            Thế nhưng, bài viết nầy không nhằm dừng lại ở “khái niệm” hay “từ ngữ”; bởi vì cái thói “sính chữ nghĩa, bắt bẻ ngôn từ, chẻ sợi tóc ra làm tư…” có thể khiến chúng ta, Giáo Hội chúng ta… “chết lâm sàng trên cái mớ mỹ từ” đó mà không có được một hành động cụ thể hay một kết quả mục vụ thực tiển nào ! Và đây chính là điều được Thượng Hội Đồng lưu ý ngay từ đầu: “Hãy nhớ rằng mục đích của Thượng Hội Đồng, và do đó của cuộc thỉnh ý này, không nhằm tạo ra các tài liệu, mà là “để gieo mầm ước mơ, rút ra các lời tiên tri và thị kiến, cho phép hy vọng nảy nở, khơi dậy niềm tin, băng bó các vết thương, cùng nhau đan kết các mối tương quan, đánh thức bình minh hy vọng, học hỏi lẫn nhau và mang lại một khả năng sáng tạo giúp khai mở trí tuệ, sưởi ấm trái tim, tiếp thêm sức mạnh cho đôi tay” (TLCB 32).

 

            Và sau đây là một số đề nghị như những “con đường hiệp hành”, những giải pháp mục vụ mang chiều kích “hiệp hành” để áp dụng cụ thể vào nhịp sống dân Chúa hôm nay:

 

1. Hiệp hành kiểu “Giang Nam thất quái”[6] trong “Anh hùng xạ điêu” của Kim Dung: Hiệp hành trong mục vụ giáo dục – đào tạo.

 

            Ai đã từng đọc truyện kiếm hiệp của tác giả Kim Dung, đặc biệt, cuốn trường thiên tiểu thuyết “Anh hùng xạ điêu”, đều không quên nhóm hành hiệp giang hồ xuất hiện ngay chương đầu của câu chuyện: Giang Nam thất quái hay Giang Nam thất hiệp. Đó là nhóm bảy vị hiệp lữ giang hồ ở Giang Nam gồm: Đại hiệp Phi thiên biển đức Kha Trấn Ác bị mù, nhị hiệp Diệu thủ thư sinh Chu Thông, tam hiệp Mã vương thần Hàn Bảo Câu, tứ hiệp Nam sơn tiểu tử Nam Hi Nhân, ngũ hiệp Tiểu di đà Trương A Sinh, lục hiệp Náo thị hiệp ẩn Toàn Kim Phát, thất  (nữ) hiệp Việt nữ kiếm Hàn Tiểu Oanh.

            Bảy nhân vật nầy đã chơi thân với nhau từ thời niên thiếu; và khi trưởng thành đã kết nghĩa thâm giao bạn hữu, sống chết có nhau cùng hành hiệp trượng nghĩa. Do một cuộc “ân oán giang hồ”, nhóm Giang Nam thất quái cùng với đạo sĩ Khưu Xứ Cơ thuộc phái Toàn Chân, giao kết với nhau: mỗi bên sẽ tìm cho được hai bà mẹ đang mang thai thất lạc: Lý Bình vợ của Quách Thiếu Thiên và Bao Tích Nhược vợ của Dương Thiết Tâm, cả hai mất tích sau vụ cả hai nhà bị kiếp nạn, hai phu quân, một chết một bị thương nặng và cũng mất tích. Giang Nam thất quái tìm Lý Bình để bảo bọc dạy dỗ cho Quách Tỉnh (con của Quách Thiếu Thiên) và Khưu Xứ Cơ tìm Bao Tích Nhược và dạy dỗ cho Dương Khang (con của Dương Thiết Tâm).

            Cuối cùng, Giang Nam thất hiệp đã tìm được mẹ con Quách Tỉnh tận miền Mông Cổ xa xôi và đã dày công suốt 18 năm trường để đào tạo cho Quách Tỉnh, không những võ công mà còn dạy chữ “Lễ”, tức cách ứng xử “làm người”, người quân tử, người trượng nghĩa. Chính nhờ “Bảy Vị Sư phụ” đạo đức, tận tâm, hết tình hết nghĩa nầy, Quách Tỉnh sau 18 năm, đã trở nên một thanh niên trưởng thành với đầy đủ nhân cách, phẩm hạnh cùng với bản lãnh võ công cao cường…

            Trong khi đó, đạo sĩ Khưu Xứ Cơ, cũng tìm gặp được mẹ con Dương Khang, nhưng trớ trêu lại ở nơi cung đình xa hoa phú quý của người Kim, đang là nước địch thù của dân Tống. Và vì chỉ có thể dạy võ công mà không có cơ hội để “dạy làm người” dạy “Lễ”, nên sau nầy Dương Khang đã trở nên một con người bại hoại và đã bị chết thảm do chính những hành vi thương luân bại lý của mình.

            Ngẫm chuyện: với 7 vị sư phụ, đồng tâm hiệp lực, để suốt 18 năm dạy chỉ 1 người cả văn lẫn võ, cả “ngón nghề để phòng thân” và “nghệ thuật để làm người”: đó không là một bài học đắt giá cho “mục vụ giáo dục-đào tạo” của chúng ta hôm nay sao ! Liệu các ban Giám Đốc các chủng viện, các ban Đào tạo của các Dòng tu có trở thành một khối “huynh đệ cốt tử”, đồng tâm hiệp lực, đồng chí tận cùng như “Giang Nam thất hiệp” để kiên trì dài lâu đào tạo ra những con người tốt đẹp, trượng nghĩa, như Quách Tĩnh ! Trong chương trình “mục vụ hiệp hành” của Hội Thánh hôm nay, thiết tưởng phải tập chú ngày đến chiều kích hiệp hành trong công tác giáo dục. Chúng ta không thể có những mục tử, những linh mục, tu sĩ có phẩm chất “hiệp hành” nếu họ được đào tạo bởi những nhóm người chia rẽ, cá nhân, thiếu hiệp nhất… Đó là chưa kể, khi họ phải chứng kiến chính những nhà đào tạo gây gương mù gương xấu về sự hiệp nhất và đức bác ái yêu thương của Tin Mừng ! Dĩ nhiên, khi nói đến “mục vụ giáo dục – đào tạo”, không chỉ dừng lại ở môi trường chủng viện hay Dòng tu, mà liên quan đến mọi công cuộc giáo dục và đào tạo nhân sự của toàn thể Dân Chúa, của Giáo phận, giáo xứ…

            Đây phải chăng cũng chính là nội dung ý nghĩa của “câu hỏi thứ 10” trong “Thập Vấn” mà tài liệu Vademecum đã gợi ý: “Cộng đồng Giáo Hội chúng ta đào tạo những con người ngày càng có khả năng “cùng nhau cất bước hành trình”, lắng nghe nhau, dấn thân vào sứ vụ và tham gia đối thoại như thế nào? Chúng ta đào tạo thế nào để thúc đẩy sự phân định và thực thi quyền bính theo phương cách hiệp hành?” (VADEMECUM 5.3/10).

 

2. Hiệp hành kiểu “Bóng đá tổng lực” hay “Cơn lốc màu da cam” của Hà Lan[7]: Hiệp hành trong Mục vụ chỉ huy và điều phối nhân sự:

 

Một trong những ấn tượng sâu sắc nhất trong lịch sử các kỳ “thế vận bóng đá” (world cup), đó là hình ảnh “Cơn lốc màu da cam” và cuộc trình diễn ngoạn mục và đầy thuyết phục của chiến thuật “bóng đá tổng lực” được đội bóng của huấn luyện viên Rinus Michels, đội Hà Lan, thể hiện trên sân vận động Munchen Tây Đức trong trận chung kết mùa World cup 1974.

Gần như cho tới trước năm 1974, chiến thuật của hầu hết các đội bóng trên thế giới đều áp dụng, đó là “phân chia đội hình với các trách nhiệm cụ thể”: tiền đạo, tiền vệ, hậu vệ, thủ môn… ai lo phận nấy. Công việc ghi bàn để đem về chiến thắng quyết định hầu hết là dành cho các tiền đạo giỏi; và vì thế, những vận động viên nầy thường “tả xung hữu đột” gần như đơn độc trước hàng phòng ngự của đối phương…

Nhưng trong trận chung kết World cup 1974 thì khán giả thế giới đã mãn nhãn đến sững sờ, khi trên “thảm cỏ xanh của sân vận động thế vận Munchen (Olympiastation, Munchen)” bị tràn ngập, bao phủ bởi một “khối vàng cam” khi lên, khi xuống, khi tản ra, khi xúm lại, như một “cơn lốc” hoà quyện; đến độ, không ai có thể đoán được cầu thủ nào là tiền đạo, tiền vệ, trung quân, hậu vệ ! Bởi vì, trừ thủ môn, cả 10 cầu thủ trên sân đều liên tục hoán chuyển cho nhau ở bất cứ vị trí nào, nhiệm vụ nào. Và đó chính là “bóng đá tổng lực” (Total Football), nghĩa là một chiến thuật đá bóng dựa trên lý thuyết căn bản: mọi cầu thủ đều tham gia như nhau, hết mình ở bất cứ vị trí nào, công cũng như thủ, được liên tục hoán chuyển, để làm nên một “sức mạnh tổng hợp”, toàn đội, chứ không chú trọng hoặc ỷ lại vào một ít “siêu sao”[8].

Đó không là một cách diễn tả rõ ràng và cụ thể cho ý nghĩa “Hiệp Hành” đó sao ! Trong Giáo Hội chúng ta hôm nay, việc phối trí trách nhiệm, phân chia công tác… rất nhiều khi vẫn còn dựa trên “chiến thuật cũ”: mánh mung, đơn lẽ; kẻ làm chết xác, người nghỉ tà tà; đôi khi, linh mục không tín nhiệm đủ giáo dân, chuyện gì cũng “bao cân”, hoặc quanh quẩn chỉ tin cẩn một số người thân tín, đến độ làm giáo dân nãn lòng, hết muốn cọng tác… ; và thế là, cả cộng đoàn đi xuống, mệt mỏi, bệ rạc, phân rẽ…

Nhưng cuối cùng, điều quan trọng mà chúng ta không được quên về “Cơn lốc mà da cam”, đó là vai trò của huấn luyện viên Rinus Michels[9]. Vâng, người huấn luyện, người điều phối, người thổi hơi, người quy tụ, gợi hứng… để tất cả các vận động viên đều “hiệp hành” thi đấu và dành chiến thắng cuối cùng, người đó thật là quan trọng.

            Chúng ta đang là những ai và áp dụng “chiến thuật” nào trên các “vận động trường mục vụ” của Hội Thánh ? Và đây cũng chính là “câu hỏi thứ 8” trong “Thập Vấn” mà tài liệu VADEMECUM gợi ý: “Làm thế nào để cộng đoàn Giáo hội chúng ta nhận ra các mục tiêu phải theo đuổi, con đường để đạt tới và những bước đi phải thực hiện? Cách hành sử uy quyền hay cai quản trong Giáo hội địa phương của chúng ta thế nào? Việc thực hiện cách làm việc theo nhóm và tinh thần đồng trách nhiệm thì thế nào? Việc đánh giá được chỉ đạo thế nào và ai chỉ đạo? Các thừa tác vụ và trách nhiệm của giáo dân được khích lệ/xúc tiến ra sao? Chúng ta đã có những kinh nghiệm hiệp hành sinh hoa kết quả/hiệu quả ở cấp địa phương hay chưa? Các đội ngũ hiệp hành hoạt động ra sao ở cấp Giáo hội địa phương (các hội đồng mục vụ giáo xứ, hội đồng linh mục, v.v…)? Chúng ta có thể đẩy mạnh sự tiếp cận mang tính hiệp hành nhiều hơn trong sự tham gia và lãnh đạo của chúng ta thế nào?” (VADEMECUM 5.3/8).

 

3. Hiệp hành kiểu “Tiếng trống Drum Tao” của người Nhật, hay Ban nhạc SIERVAS của các nữ tu Dòng Servants tại Peru[10]: Hiệp hành trong mục vụ văn hóa – nghệ thuật:

 

Tại các sân khấu và tụ điểm âm nhạc, người trẻ luôn chiếm đa số về lượng khán giả cũng như thành phần nghệ sĩ biểu diễn. Nhiều ban nhạc, ca sĩ trẻ rất thành công và thành danh. Trong số đó, có một “đội trống” mang tên “Drum Tao” của Nhật Bản đã khiến cả thế giới ngã nón thán phục mỗi khi chiêm ngưỡng họ trình diễn.

Ngoài tính nghệ thuật biểu diễn trống độc đáo, đầy sáng tạo, nghệ thuật, linh động, mang “dáng đứng” mạnh mẽ, oai hùng, xuất thần… theo phong cách “Samurai” của xứ sở “Mặt trời”, điều đáng nói chính là “môi trường sống và huấn luyện” của ban trống nầy.

Thật vậy, ban trống này, từ khi được thành lập năm 1993, đã chọn một ngôi làng gần vườn quốc gia Aso-Kuju trên đảo Kyushu và đặt tên cho nơi đây là “Grandioso” (Một từ ngữ âm nhạc có nghĩa hùng tráng), để toàn bộ hàng trăm thành viên cùng sống chung, tập luyện, sáng tác, dựng bài… theo một kỷ luật khe khắt, chẳng khác nào một “tu viện”[11].

Sống chung, đam mê chung, tập luyện chung và với một kỷ luật chung… phải chăng nhờ cái tính “chung” đặc biệt đó mà đội trống Drum Tao đã tồn tại gần 2 thập kỷ và vẫn còn là một đội trống có sức hấp dẫn nhất trên thế giới hôm nay.

Nhân tiện nói đến đội trống “Drum Tao” của Nhật Bản, chúng ta đừng quên một Ban nhạc đặc biệt đã gây ấn tượng lớn trong cuộc Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 34 tại Panama: Đó là ban nhạc Rock and Roll mang tên SIERVAS (Tiếng Tây ban Nha có nghĩa là các tôi tớ) của các nữ tu Dòng Servants of the Plan of God, được thành lập năm 2014 tại Lima,  bao gồm 11 nữ tu tại Peru và các nữ tu khác đến từ 5 quốc gia: Nhật Bản, Ecuador, Trung Quốc, Costa Rica và Chí Lợi. Ban nhạc “nữ tu quốc tế” nầy đã đi trình diễn tại 11 quốc gia và luôn trung thành với tôn chỉ: dùng âm nhạc để rao giảng Tin mừng[12].

Trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật, có lẽ mảng “âm nhạc” luôn là môi trường hấp dẫn và quy tụ nhiều người. Giới nghệ sĩ Công Giáo đang dấn thân trong môi trường nầy cũng không hề nhỏ. Tuy nhiên, tại Việt Nam chúng ta, hầu hết những đối tượng nầy đều hoạt động riêng lẽ, cá nhân, tự phát tự diệt…; và nhất là thiếu một năng lực “làm chứng”, có khi lại là “phản chứng”. Cần phải có kế hoạch “hiệp hành” để quy tụ, hướng dẫn, đầu tư… hầu tạo điều kiện để họ được nâng đỡ, hiểu biết sứ mệnh và có được môi trường thuận lợi để trở thành những khí cụ hữu hiệu trong công cuộc loan báo Tin Mừng.

Đó là chưa kể các loại hình văn hóa khác: văn học, văn chương, kịch nghệ, điện ảnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc…, trong đó có những bộ môn mà đã có thời Hội Thánh từng là kẻ “cầm chịch”, đi đầu; nhưng hôm nay, gần như Giáo Hội đang chào thua, tụt hậu… Việc thực thi sứ mệnh loan báo Tin Mừng chỉ có thể thành công khi chúng ta vận dụng thành công các loại hình văn hóa nghệ thuật đi vào đời sống đức tin. Trong “nghệ thuật đồng hành của Giáo Hội” không một “bộ môn nào”, một “đối tượng nào”, một ‘lãnh vực nào” bị bỏ lại bên lề. Đó là điều được Thượng Hội Đồng nêu lên nơi “câu hỏi thứ nhất” trong “Thập Vấn” của VADEMECUM: “Trong Giáo Hội địa phương của chúng ta, ai là những người “cùng nhau cất bước hành trình”? Ai là những người đường như xa hơn? Là những người đồng hành, chúng ta được kêu gọi để thăng tiến như thế nào? Các nhóm và cá nhân nào vẫn còn ở bên lề?” (VADEMECUM 5.3/1).

 

4. Hiệp hành kiểu “lắng nghe tiếng khóc” hay “em ngã chị nâng” của Thế vận hội khuyết tật Seattle 2018: Hiệp hành khi biết lắng nghe và dìu nhau tiến bước[13].

 

Trong lịch sử thi đấu của các đại hội Olympic thế giới cũng như khu vực, đặc biệt, thế vận hội dành cho những người khuyết tật (Paralympic Games)[14], có một kỳ “thế vận hội đặc biệt” được tổ chức tại Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ năm 2018, đã để lại trong lòng khán giả thế giới một ấn tượng sâu sắc, cảm động và đầy tính nhân văn. Và đây là câu chuyện cảm động đó:

“Tại Thế Vận Hội đặc biệt Seattle (dành cho những người tàn tật) có 9 vận động viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc thi chạy đua 100m. Khi cờ hiệu phất lên, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ bị vấp té liên tục ngay sát vạch xuất phát. Đầu gối của cậu đập mạnh xuống đường, da của cậu bị trầy xước, rớm máu. Và cậu bật khóc. Khi tám người kia nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi, họ quay trở lại. Tất cả, không trừ một ai! Một cô gái bị hội chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé: “Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn”. Cả 7 người còn lại cùng ngồi xuống quanh cậu bé, ánh mắt lộ rõ sự lo lắng. Một lúc, cô gái cất tiếng hỏi tiếp: “Em đã thấy đỡ hơn chưa?”. Cậu bé đưa tay lau nước mắt, mỉm cười gật đầu. Cả chín người cùng đứng dậy, họ khoác tay nhau cùng sánh bước về vạch đích.”[15].

 

Vâng, biết “lắng nghe” và không để ai bị bỏ lại đằng sau, tất cả cùng dìu nhau để cùng về đích, đó lại không phải là thể hiện sự “hiệp hành” đúng nghĩa sao ! Có lẽ đây là điều mà Thượng Hội Đồng đang ưu tiên lưu ý qua những diễn ngữ: “Chúng ta là dấu chỉ cho một Hội Thánh lắng nghe và lữ hành”, “Vượt khỏi tai họa giáo sĩ trị”, “Chữa trị virus tự mãn”, (VADEMECUM 2.3), “Cám dỗ chỉ lắng nghe những thành phần hoạt động trong Giáo Hội” (VADEMECUM 2.4/9)….

Chắc chắn, khi đề cập đến những “tiêu cực” đó, Giáo Hội đã cảm nhận từ những kinh nghiệm đau thương của chính mình, của những cộng đoàn Kitô hữu trong Hội Thánh. Thật vậy, chúng ta không chối cải, ở giữa lòng Giáo Hội vẫn còn nhiều cộng đoàn, Hội Dòng… mà ở đó thói “cha chú, cửa quyền, độc tài, thiên vị, kiêu căng…” nơi những người lãnh đạo (cha xứ, Bề trên Dòng, Tu sĩ phụ trách cộng đoàn…) vẫn đang hiện hữu và trở thành những cái “ách” nặng nề đè nặng trên đôi vai của nhiều anh chị em tín hữu, các tu sĩ…

Chính vì thế, “Lắng nghe” chính là một trong những “từ khóa” của Thượng Hội Đồng; và có thể nói được, nội dung ý nghĩa đó được tập họp nơi “câu hỏi thứ hai” trong “THẬP VẤN” của VADEMECUM: Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta qua những tiếng nói mà đôi khi chúng ta không nhận ra như thế nào? Giáo dân, đặc biệt là phụ nữ và giới trẻ, được lắng nghe ra sao? Điều gì làm chúng ta dễ lắng nghe hoặc ngăn cản chúng ta lắng nghe? Chúng ta lắng nghe những người ở vùng ngoại biên như thế nào? Những đóng góp của các nam nữ tu sĩ được đón nhận thế nào? Khả năng lắng nghe của chúng ta có những hạn chế nào, đặc biệt là lắng nghe những người có quan điểm khác với chúng ta? Nơi chốn nào dành cho tiếng nói của những người thiểu số, đặc biệt những người trải qua cảnh đói nghèo, ở bên lề hay bị xã hội loại trừ?” (VADEMECUM 5.3/2).

 

5. Hiệp hành kiểu  “Mùa Xuân Á Rập” hay “Phong trào Dù vàng”: Hiệp hành trong mục vụ truyền thông[16]:

 

Có một “sân chơi” có thể làm nên lịch sử của một dân tộc, khai sinh một hệ thống chính trị mới, và phần nào tương đồng như một cuộc cách mạng. Danh từ chuyên môn mà các nhà “chấp pháp” và bình luận xã hội thời nay đặt tên cho loại “sân chơi” này đó là “bất tuân dân sự” (civil disobedience)[17] phi bạo động, mà thể hiện cụ thể đó là biểu tình, xuống đường, tập họp mít-ting…

Vâng, cuộc “bất tuân dân sự” khởi đầu ngày 17.12.2010 với cuộc tự thiêu của chàng thanh niên da màu Tunisia Mohamed Bouazizi, kéo theo hàng triệu bạn trẻ xuống đường thông qua các mạng xã hội Facebook, Twitter… đã làm nên cuộc “cách mạng hoa lài” (Revolution of Jasmine)[18], lần lượt cuốn phăng các chế độ độc tài chỉ trong vòng 1 năm (2011):  Tunisia vào ngày 14 tháng 1, Ai Cập vào ngày 11 tháng 2 và Libya vào ngày 20 tháng 10. Và đó chỉ là ba biến động chính trị lớn nhất của thế giới Ả Rập, chưa kể những cuộc “bất tuân dân sự” rầm rộ khác cũng tại các nước Ả Rập như Yemen, Jordan, Algérie, Mauritanie, Ả Rập Xê út, Oman, Sudan, Syria, Iraq, Maroc…, đến đổi thế giới đã dùng chung một cụm từ để chỉ sự kiện đáng lưu ý nầy vào thời điểm đó: “Mùa Xuân Ả Rập” (Arab Spring)[19].

Từ “Mùa Xuân Á Rập” đầy biến động, những người trẻ Á Châu tiếp nối các bạn trẻ Ả Rập đã làm dậy lên một cuộc “bất tuân dân sự” khác để đòi quyền tự chủ ở “trung tâm tài chánh” của thế giới là thành phố Hồng Kông, một cựu thuộc địa của người Anh, vừa được trao lại cho Trung Quốc lục địa với hiệp ước “Nhất Quốc lưỡng chế” (Một quốc gia hai chế độ) vào ngày 1.7.1997.

Cũng thông qua mạng xã hội, những người trẻ Hồng Kông đã làm cả thế giới ngạc nhiên khi thể hiện cuộc “bất tuân dân sự” với số tham gia đông chưa từng thấy nhưng diễn ra trong hoà bình, trật tự, sạch sẽ, văn minh…mà hầu như chưa tìm thấy nơi đâu trên thế giới.

Vâng, “phong trào Dù vàng” (Yellow umbrella movement) của người trẻ Hồng Kông năm 20[20] hay cuộc xuống đường của gần 2 triệu người “mặc áo thun đen” trong ngày 16.06.2019 để phản đối “Luật Dẫn Độ”[21], thực ra, không được điều hành, chỉ đạo trực tiếp và cụ thể bởi một lãnh tụ nào, đảng phái nào… mà gần như, các bạn trẻ đã cùng sẻ chia, liên lạc, phối kết hành động và tự nguyện phục vụ thông qua phương tiện kỷ thuật truyền thông, mạng xã hội, một “phương tiện” mà các chế độ độc tài hoảng sợ, nếu không nói là căm thù. (Xem thêm hai bài viết: 1) “Mạng xã hội: nhận diện và định hướng quản lý”[22] của PGS,TS  NGUYỄN THẾ KỶ - Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; 2) “Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam”[23] của VÕ VĂN THƯỞNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

Sở dĩ nhắc đến “sân chơi” đặc biệt của giới trẻ: “Bất tuân dân sự” và ảnh hưởng của “quyền lực thứ 5” (Kỷ thuật truyền thông - Mạng xã hội) là muốn nhắm đến chiều kích hiệp hành thông qua phương tiện truyền thông hiện đại. Vâng, nếu không có smartphone, iphone, ipad, internet, facebook, twitter, youtube, Google… thì làm sao các bạn trẻ làm nỗi cuộc “cách mạng hoa lài” ở Ả Rập hay phong trào “Dù vàng”, “áo đen” trong trật tự, sạch sẽ… ở Hồng Kông ? Ngày nay, quả thật, nói tới chiến lược hiệp hành trong sinh hoạt mục vụ, đặc biệt, mục vụ giới trẻ, mà không “đá đến” “thế giới kỷ thuật số, mạng xã hội”… thì e rằng, chúng ta đã quá tụt hậu nếu không nói là “lạc dòng”, chẳng giống ai ! Dĩ nhiên cần phải “gạn đục khơi trong” và định hướng sử dụng; nhưng không phải vì thế mà coi “mạng xã hội là kẻ thù nguy hiểm” để cấm ngăn (như cái nhìn của Ban Tuyên Giáo Cọng sản)[24], hoặc chỉ nhìn khía cạnh tiêu cực để bài bác (giới trẻ lên mạng chỉ là để câu “like”, câu “view”, sống ảo…)[25] thì cũng không là giải pháp tối ưu.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong tông huấn Christus Vivit đã dành nguyên 5 số (86-90) với chuyên mục “Thế giới kỷ thuật số” để nhắc lại các điểm nhấn của chuyên đề nầy trong “Văn kiện kết thúc Thượng Hội đồng Giám mục XV”[26]. Và đây cũng là điều có liên quan đến “câu hỏi thứ 3” trong “THẬP VẤN” mà tài liệu VADEMECUM đã khơi gợi trong tiến trình Hiệp hành của Thượng Hội Đồng: “Trong Giáo Hội địa phương và trong xã hội chúng ta, điều gì tạo điều kiện hay điều gì cản trở việc nói ra cách can đảm, thẳng thắn và có trách nhiệm? Khi nào và cách nào để chúng ta nói lên được những gì quan trọng đối với chúng ta? Mối tương quan với hệ thống truyền thông địa phương (không chỉ với truyền thông Công Giáo) thì thế nào? Ai nói thay cho cộng đồng Kitô hữu và họ được chọn thế nào?” (VADEMECUM 5.3/3).

 

6. Hiệp hành kiểu “Dân Làng Hồ” của các thừa sai truyền giáo cho anh em dân tộc Tây nguyên: Hiệp hành trong mục vụ truyền giáo:

 

            Trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, có một khúc quanh quan trọng không thể bỏ qua hay xem thường đó là “công cuộc mở đạo lên Tây Nguyên thời Đức Cha Stêphanô Cuénot Thể (1802-1861). Sách “Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian” đã tóm tắt công cuộc truyền giáo đầy gian nan khốn khó của các thừa sai bằng những dòng sau: “Các thừa sai sống giữa các anh em dân tộc, giảng dạy và chia sẻ cuộc sống thiếu thốn khổ cực của họ”[27]. Tuy nhiên, để hiểu hết sự khó khăn, tăm tối, thử thách, khổ đau, nguy hiểm…cùng những phương cách loan báo Tin Mừng đầy hiệu quả, mà các vị thừa sai tiên khởi đã kinh qua thì chúng ta phải đọc quyển nhật ký truyền giáo “Dân Làng Hồ” của thừa sai Dourisboure. Ở đây, chỉ xin đơn cử một trích đoạn ngắn: “Giữa muôn ngàn thử thách ấy, chúng tôi vẫn sung sướng khi nghĩ rằng chúng tôi có mặt ở nơi đây là do Thánh ý của Chúa nhân lành. Điều đó nâng đỡ lòng can đảm nơi chúng tôi và chúng tôi tìm thấy niềm an ủi khi so sánh hoàn cảnh của mình với hoàn cảnh của Chúa Giêsu trong chuồng bò hôi hám. Mỗi người chúng tôi thường nằm xoài người trên chiếc chiếu manh trải ở bốn góc xung quanh bếp lửa giữa lều. Những ai lên cơn sốt thì cố mà chống chọi với nó, những ai vừa nguôi cơn sốt thì cầu nguyện, cười đùa, hát thánh vịnh, trò chuyện, hoặc hút thuốc. Ban ngày, ai được cơn sốt cho tạm nghỉ thì vào rừng kiếm măng, hái rau, bứt lá cây, rễ cỏ, bất cứ thứ gì miễn là ăn được, đem về nấu trong nồi đất để ăn với cơm, vốn là thực phẩm duy nhất của chúng tôi. Có một hôm trúng mánh lớn: một thanh niên người Kinh trong đoàn bắt được một con cá to bằng con cá trích ở suối, đây quả là một sự kiện. Cha Combes, với tư cách là Bề trên, chia con cá thành bốn phần bằng nhau và mỗi người trịnh trọng đặt khúc cá trên tô cơm của mình. Trái lại, cũng có đôi lần chúng tôi phải ăn chay hoàn toàn vì mọi người đều đau một lượt, không có ai còn sức để thổi cơm…”[28].

            Chúng ta biết, nội hàm của khái niệm “Hiệp Hành” như Giáo Hội cắt nghĩa, bao gồm ba tác động: Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ. Cách đây gần 200 năm, khi các thừa sai đi mở đạo cho những người anh em dân tộc, chắc chắn các ngài chưa có được trong tay “tài liệu chuẩn bị” hay cẩm nang “Vademecum” để được hướng dẫn những “nguyên tắc hiệp hành” như chúng ta hôm nay. Nhưng trong cách ứng xử mục vụ và nỗ lực truyền giáo, quả thật, các ngài đã thực thi nguyên tắc nầy cách trọn hảo: đồng hành với dân, sống với dân, đồng cam cọng khổ với dân, để dân chung chia trách nhiệm, cọng tác… Đó không là cách thực thi “câu hỏi thứ 5” trong “THẬP VẤN” của VADEMECUM đó sao: “Vì tất cả chúng ta đều là các môn đệ truyền giáo, mọi người đã được rửa tội được mời gọi tham gia vào sứ vụ này của Hội thánh thế nào? Điều gì cản trở những người đã được rửa tội không tích cực tham gia sứ vụ này? Những lãnh vực nào của sứ vụ mà chúng ta đang bỏ mặc? Cộng đoàn hỗ trợ ra sao cho những thành viên của mình tham gia phục vụ xã hội theo những cách thức khác nhau (công tác xã hội và hoạt động chính trị, nghiên cứu khoa học, giáo dục, cổ võ công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người, chăm sóc môi trường, v.v…)? Hội thánh đã giúp những thành viên này thế nào để họ phục vụ xã hội theo cách thức truyền giáo? Sự phân định những chọn lựa truyền giáo được thực hiện thế nào và bởi ai?” (VADEMECUM 5.3/5).

 

7. Hiệp hành kiểu “dâng Thánh lễ ở chùa” như linh mục Pio Ngô Phúc Hậu hay “chung tay làm thiện nguyện mùa Covid” như nữ tu Hồng Quế: Hiệp hành trong mục vụ Đại kết:

 

            Có thể liên quan đến “hiệp hành” qua hai câu chuyện sau:

 

- Chuyện thứ 1: Trong “Nhật Ký Truyền giáo” của linh mục Pio Ngô Phúc Hậu có câu chuyện nầy: “Núi Sam, … 1969

Mình cùng với lớp đệ tứ lên cắm trại ở Núi Sam. Núi Sam vừa hùng vĩ vừa huyền bí. Thầy trò leo trèo thỏa thích. Chụp hình lia lịa, và viếng Chùa. Ni sư thì hiền như cây cỏ, học trò mình thì nghịch như ma. Chùa chiền đang yên tĩnh bỗng rộn lên như hội chợ. Các ni sư không giận hờn, không xua đuổi. Dường như các ngài thương mến học trò của mình hơn cả chính mình. Các ngài mỉm cười độ lượng trước những trò chơi quỷ quái của chúng. Chùa chiền là thế : thiên nhiên yên tĩnh; tâm hồn yên tĩnh. Đăng sơn chán thì hạ sơn. Hạ sơn để dâng thánh lễ. Dâng thánh lễ ở đâu ? Mình vô chính điện.

– Thưa Đại đức, trong chùa có chỗ nào thuận tiện, Đại đức cho tôi mượn chừng nửa giờ để tôi dâng thánh lễ được không ?

– Ở đây thì không tiện. Ở ngoài cổng có một phòng khách rộng lắm, linh mục có thể ở đó và dâng lễ tự nhiên. Chùa cho mượn bàn để làm bàn thờ. Đèn của chùa, hoa của chùa, chuông của chùa, chỉ có mình là của Chúa.

Lần đầu tiên trong đời, mình dâng thánh lễ trong khuôn viên nhà chùa. Chúa ngự ở đây và chắc chắn Chúa yêu thương nơi này. Từ phòng khách mình giang tay cầu nguyện, mắt nhìn lên cao như­ng vẫn lo ra nhìn về chính điện. Ở đó tượng Phật to lớn ngồi thiền giữa rừng hương nhang, yên tĩnh, thân thương”[29].

 

- Chuyện thứ 2: Trong cái thời đại dịch mà gần như ai cũng hoang mang, lo sợ; thậm chí có nhiều người hoảng loạn, thất vọng và nguyền rủa…, thì đâu đó vẫn sáng lên những hình ảnh đẹp của sự chia sẻ yêu thương, của tinh thần liên đới phục vụ đầy quả cảm, hy sinh, vị tha, quảng đại; cả trên bình diện thế giới giữa nhiều quốc gia, lẫn trong những mối tương quan bà con xa gần trong nước, thành phố, hay nơi chòm xóm láng giềng….

Trong những ngày “nước sôi lửa bỏng” của cách ly dịch bệnh tại Sài Gòn, hình ảnh của nữ tu Công Giáo Maria Hồng Quế, bên cạnh những Phật tử như cô Đào, Đại đức Thích Lệ Ngôn hay mục sư Tin Lành Phạm Đình Nhẫn cùng sát cánh bên nhau mang lương thực sẻ chia đến những căn hộ đói khổ, nghèo nàn, đã rực sáng lên như những “viền bạc” của tình liên đới giữa đám mây đen tối của cách ly. Quả thật, như câu ngạn ngữ của người Tây phương: “Every dark cloud has a silver lining” (Mỗi đám mây đen đều có một viền bạc). Chính trong cái nhìn tích cực và đầy hy vọng đó mà có nhiều người đã cho rằng: Con virus Covid đã mang con người lại gần nhau hơn, liên đới hơn, quý trọng mạng sống hơn, khiêm tốn hơn trước những giới hạn và bất lực của phận người…

Qua “hai câu chuyện”, đúng hơn, hai sự kiện vừa nêu, chúng ta có thể nói, dấu chỉ của “hiệp hành” vẫn sáng lên, vẫn sống động giữa lòng Hội Thánh qua bao nhiêu cách ứng xử mục vụ của các linh mục, nữ tu và bao nhiêu tín hữu âm thầm khác, đặc biệt trong lãnh vực “Đại Kết”. Dẫu biết rằng, đó đây vẫn còn có những Kitô hữu, những linh mục… mang tâm trạng hẹp hòi đố kỵ đối với những người anh em khác tôn giáo cùng với tín ngưỡng của họ. Chính thái độ đó đã gây ra nhiều bức xúc, tự ái cho nhiều người lương, người Phật tử; đồng thời, tạo nên những bức tường ngăn cách, đố kỵ. Thực thi hiệp hành chính là cùng nhau nỗ lực thực hiện sứ mệnh “Đại Kết”, một chiều kích không thể thiếu trong đời sống đức tin của Dân Chúa. Đây cũng chính là “câu hỏi thứ 7” trong “THẬP VẤN” mà Vademecum đã nêu bật: Cộng đoàn Giáo hội chúng ta có những mối tương quan nào với các thành viên của các truyền thống và tông phái Kitô giáo khác? Chúng ta chia sẻ điều gì và cùng đi với nhau như thế nào? Chúng ta rút ra được những hoa trái nào từ việc cùng nhau bước đi? Đâu là những khó khăn? Làm thế nào để chúng ta có thể cùng nhau đi bước tiếp theo tiến về phía trước?” (VADEMECUM 5.3/7).

 

Kết luận:

 

            “Hiệp Hành” là câu chuyện dài và rộng để toàn Dân Chúa kể cho nhau nghe và cùng nhau thể hiện trong những ngày này cũng như trong tương lai. Có người cho rằng, với ý nghĩa và mục tiêu trọng đại đã được gợi hứng từ Công Đồng Vatican II, hy vọng “tiến trình Hiệp Hành” của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XVI nầy sẽ như là một “Vatican III” để một lần nữa canh tân và củng cố Giáo Hội. Đây không là “câu chuyện thời sự” vụt đến rồi vụt đi như một “biến cố mục vụ” bình thường hay bất thường, mà là một “tiến trình thiêng liêng” dành cho toàn Dân Chúa để sống và thể hiện niềm tin, để canh tân và hoán cải, để xây dựng và lên đường…, như cách kiến giải của Vademecum: “Trước hết và trên hết, tiến trình hiệp hành là một tiến trình thiêng liêng. Đây không phải là chuyện cứ máy móc thu thập dữ liệu hay tổ chức hàng loạt những cuộc hội họp và thảo luận. Mục đích của việc lắng nghe mang tính chất hiệp hành là biện phân, vì thế đòi hỏi chúng ta phải học biết và sử dụng nghệ thuật biện phân cá nhân và cộng đoàn. Chúng ta lắng nghe lẫn nhau, lắng nghe truyền thống đức tin của chúng ta và lắng nghe những dấu chỉ thời đại để nhận biết những gì Chúa đang nói với chúng ta. Đức Giáo Hoàng Phanxicô mô tả hai mục đích tương thuộc của tiến trình lắng nghe là: “Lắng nghe Thiên Chúa, để cùng với Ngài chúng ta có thể nghe thấy tiếng kêu của dân Ngài; lắng nghe dân Ngài cho đến khi chúng ta hòa hợp với ý muốn mà Thiên Chúa kêu gọi chúng ta đón nhận ý muốn đó” (VADEMECUM 2.2).

 

            Ước mong “Thất đạo Hiệp hành” sẽ là một que củi nhỏ để “bếp lửa hiệp hành” cháy lên.

 

Trương Đình Hiền (6.12.2021)


[1] Tiếng Anh: For a Synodal Church: Communion, Participation, and Mission; tiếng Pháp: Pour une Église synodale: Communion, Participation et Mission

[2] UỶ BAN THẦN HỌC QUỐC TẾ (INTERNATIONAL THEOLOGICAL COMMISSION), Vũ Văn An dịch, Tính Đồng Nghị trong Đời sống và Sứ mệnh của Giáo Hội (Synodality in the Life and Mission of the Church), website http://ghhv.quetroi.net/60VUVANAN/TinhDongNghiTrongDoiSongVaSuMenhCuaGiaoHoi.pdf, đăng tháng 11.2019.

[3] TÀI LIỆU LÀM VIỆC (INSTRUMENTUM LABORIS) của THĐGM XV, Vũ Văn An dịch, website http://www.giaoly.org/vn/tai-lie%cc%a3u-lam-vie%cc%a3c-thuo%cc%a3ng-ho%cc%a3i-dong-ve-gioi-tre%cc%89/, đăng ngày 02.01.2019, Số 140: Hành trình đồng bộ, vốn là một “con đường chúng ta cùng đi với nhau”, bao gồm một lời mời khẩn cấp để tái khám phá sự phong phú trong căn tính “dân Chúa”, vốn là thuật ngữ để định nghĩa Giáo Hội như dấu chỉ có tính tiên tri về sự hiệp thông trong một thế giới thường bị chia rẽ và bất hòa xé nát”.

[4] ĐGH PHANXICÔ, Đức Kitô Hằng Sống (Christus Vivit), Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng, Bản dịch của lm. Lê Công Đức, pss, nxb Đồng Nai 2019, tr. 136.

[5] BRUNO LEPEU, Un Moment Mep,  Để tỏ lòng tri ân, ôn lại kỷ niệm, hướng về tương lai. Sài Gòn, 25-26.6.2019, Tính Hội Đồng trong truyền giáo: một phong cách truyền giáo tại Châu Á, tr. 92.

[6] WIKIPEDIA, Giang Nam thất quái, website Giang Nam thất quái – Wikipedia tiếng Việt.

[7] X. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIÊN, Mẹ tôi là thế đấy, nxb An Tôn & Đuốc Sáng 2019, tr. 403-405.

[8] Xem thêm một số bài viết về “Bóng đá tổng lực” (hoặc “tổng hợp”) của các tác giả với các đường link sau:

- TRẦN LONG, Top 5 lối chơi đã trở thành di sản của bóng đá thế giới wesite https://babil.info/top-5-loi-choi-da-tro-thanh-di-san-cua-bong-da-the-gioi/

- KINH THI, World Cup 1974: "Cơn lốc màu da cam" làm say đắm lòng người, website http://bongdaplus.vn/tin-bai/65/81840/world-cup-1974-con-loc-mau-da-cam-lam-say-dam-long-nguoi.bdplus

- MINH TÀI, Bóng đá tổng lực: Lịch sử ra đời và cách vận hành, website https://spiderum.com/bai-dang/GOC-CHIEN-THUAT-BONG-DA-TONG-LUC-LICH-SU-RA-DOI-VA-CACH-VAN-HANH-fc8

[9] WIKIPEDIA, “Marinus ("Rinus") Jacobus Hendricus Michels (9 tháng 2 năm 1928 – 3 tháng 3 năm 2005) là một cầu thủ và huấn luyện viên người Hà Lan. Ông cống hiến cả sự nghiệp của mình ở câu lạc bộ Ajax Amsterdam, và sau đó là huấn luyện viên của câu lạc bộ này. Ông cũng là thành viên của Hà Lan. Ông cũng từng có thời gian làm huấn luyện viên cho đội tuyển quốc gia. Ông nổi tiếng với thành tích huấn luyện của mình, cùng Ajax Amsterdam và giành cúp vô địch Tây Ban Nha với FC Barcelona. Ông cùng đội tuyển Hà Lan đạt Á quân World Cup 1974 và vô địch Euro 1988. Ông được coi là người phát minh ra lối chơi bóng đá tổng lực vào thập niên 1970 chính điều đó đã khiến FIFA bầu ông là huấn luyện viên xuất sắc nhất thế kỉ 20 vào năm 1999 và tờ France Football năm 2019 bầu chọn là Huấn luyện viên xuất sắc nhất lịch sử”, website https://vi.wikipedia.org/wiki/Rinus_Michels

[10] GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Mẹ tôi là thế đấy, sđd, tr. 407-408.

[11] NGỌC HÀ, Trí thức trẻ, website http://cafebiz.vn/co-gi-o-ngoi-lang-nhat-ban-noi-ti-le-choi-con-kho-nhan-hon-ca-dh-harvard-ren-luyen-khac-kho-nhu-samurai-tat-ca-de-giu-hon-cho-tieng-trong-thieng-lieng-nay-20190322082636054.chn

[12] VŨ NHUẬN, website

http://vietcatholicsydney.net/vietcatho/newsdetail/Tin-Giao-Hoi11/Ban-nhac-Rock-and-Roll-cua-cac-nu-tu-se-trinh-dien-cho-DTC-tai-WYD-Panama-1564/

[13] X. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Mẹ tôi là thế đấy, sđd, tr. 405-407.

[14] WIKIPEDIA, Thế vận hội dành cho người khuyết tật, website

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_v%E1%BA%ADn_h%E1%BB%99i_d%C3%A0nh_cho_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_khuy%E1%BA%BFt_t%E1%BA%ADt

[15] THU PHẠM, Hãy cùng nhau chiến thắng, website https://aba.edu.vn/hay-cung-nhau-chien-thang.html

[16] X. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Mẹ tôi là thế đấy, sđd, tr.408-412.

[17] WIKIPEDIA, Bất tuân dân sự, website

https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A5t_tu%C3%A2n_d%C3%A2n_s%E1%BB%B1_(Henry_David_Thoreau)

[18] LÝ THÁI HÙNG, Lòng dân và cuộc cách mạng hoa lại ở Tunisia, website https://viettan.org/long-dan-va-cuoc-cach-mang-hoa-lai-tai-tunisia/

[19] WIKIPEDIA, Mùa xuân Á rập, website

https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B9a_xu%C3%A2n_%E1%BA%A2_R%E1%BA%ADp

[21] THIÊN AN, Nhìn lại những cuộc biểu tình 'chao đảo' Hong Kong hai thập kỷ qua” website

https://baomoi.com/nhin-lai-nhung-cuoc-bieu-tinh-chao-dao-hong-kong-hai-thap-ky-qua/c/31159295.epi

[22] PGS,TS  NGUYỄN THẾ KỶ, Mạng xã hội: nhận diện và định hướng quản lý: “…Với bản chất “không biên giới”, bên cạnh lợi thế gần như vô biên, thì những mặt trái, mặt tiêu cực của Internet cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý. Một số quốc gia đã dựng lên các “biên giới ảo” trên nền Internet để kiểm soát “lãnh thổ của mình”. Chính sách quản lý internet của Trung Quốc - nơi có trên 460 triệu người sử dụng, có thể là một sự tham khảo cần thiết. Nước này phát triển Internet, mạng xã hội, báo chí điện tử nội địa nhằm nâng cao đời sống tinh thần lành mạnh của người dân, chiếm lĩnh thị trường trong nước, tiến mạnh ra và cạnh tranh với bên ngoài. Họ chủ trương lập những “tường lửa”, thậm chí ngăn chặn toàn bộ các mạng xã hội bên ngoài nếu xét thấy nguy hại cho công chúng trong nước. Đài RFA (ngày 2/2/2011) viết: “Dù cấm cửa thế nào chăng nữa thì Trung Quốc sẽ không bao giờ đủ khả năng bịt miệng Facebook và Twitter cũng như các trang mạng xã hội khác. Trí thức Trung Quốc một lúc nào đó sẽ tập hợp lại với nhau qua đường kết nối đầy sức mạnh này”, website https://baoquocte.vn/mang-xa-hoi-nhan-dien-va-dinh-huong-quan-ly-74029.html

[23] VÕ VĂN THƯỞNG, Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam: “Nhìn lại các cuộc “cách mạng màu” hay các cuộc biểu tình bạo động mang hơi hướng của “cách mạng màu” được hiện đại hóa trong mấy thập niên gần đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, chính truyền thông xã hội đã châm ngòi, thổi bùng bằng kích động, tổ chức và thông tin, khiến ban đầu là các phong trào đường phố, đi đến bạo động và hệ quả là sự suy yếu nhanh chóng của các chế độ như ở Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi, Mỹ Latinh (1). Truyền thông xã hội, tin giả đã trở thành từ khóa làm nhiều người liên tưởng tới những cuộc xuống đường bạo động khiến cả châu Âu và thế giới đứng ngồi không yên suốt thời gian qua. Ngay tại Mỹ, sau những cuộc biểu tình chiếm phố Wall (năm 2011), giới chính trị gia đã chỉ trích đích danh Facebook, Twitter là “công cụ của bạo loạn”. Báo chí phương Tây cũng đúc rút phương thức dùng truyền thông xã hội tạo nên những “đám đông” kích động, đó là: châm ngòi xuống đường; triệt để lợi dụng các sự cố, tai nạn, những cái chết để tạo cớ bạo loạn; sử dụng điện thoại di động, mạng xã hội để kích động và liên kết trong, ngoài.” (…), website

https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/truyen-thong-xa-hoi-doi-voi-on-dinh-chinh-tri-xa-hoi-o-viet-nam-541998.html

[24] X. Ghi chú 19,20 bên trên.

[25] Huấn từ của Chủ chăn giáo phận trong cuộc gặp mặt Giới trẻ Phát Diệm lần thứ IV, 10/7/2019. Nguồn:

https://www.facebook.com/groups/382375888496253/permalink/2484263468307474/?comment_id=2487925004607987&comment_tracking=%7B%22tn%22%3A%22R%22%7D

[26] ĐGH PHANXICÔ, Christus Vivit, sđd, 86-90, tr. 52-56.

[27] BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ GIÁO PHẬN, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, nxb An Tôn & Đuốc Sáng 2017, tr. 208-210.

[28] P. DOURISBOURE, nguyên tác “Les sauvages Bahnars”, Paris 1929, Dân Làng Hồ, bản dịch Tòa Giám Mục Kontum, nxb Đà Nẵng 2008, tr. 52-53.

[29] LM. PIO NGÔ PHÚC HÂU, Nhật ký truyền giáo,     Website https://gpcantho.com/nhat-ky-truyen-giao-lm-pio-ngo-phuc-hau/#_Toc214885920

Đọc tiếp »