Hiển thị các bài đăng có nhãn Học hỏi Tông Huấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học hỏi Tông Huấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

Hoán cải Tình yêu Hôn Nhân - Học Hỏi Tông Huấn của Đức Thánh Cha Amoris Laetitia

 

 

TÔNG HUẤN AMORIS LAETITIA

CHƯƠNG IV: TÌNH YÊU TRONG HÔN NHÂN

 CHIA SẺ VỚI CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN BÀ RỊA

THƯỜNG HUẤN THÁNG 3/2017

L.m. Gioan B. Trương Đình Hà

 

Dẫn nhập

Chương 4 của Tông Huấn Amoris Laetitia, Đức Thánh Cha Phanxicô nói đến tình yêu trong hôn nhân, được soi sáng bởi Bài Ca Đức Ái của Thánh Phaolô trong 1 Cô-rin-tô 13,4-7. Có thể nói dây là một chương tổng hợp với suy tư hết sức súc tích nhưng rõ ràng với ngôn từ bình dân, về tình yêu con người theo các thuật ngữ cụ thể đặt nền tảng trên Thánh Kinh. Đây sẽ là những chỉ dẫn quý giá cho các gia đình, nhưng chúng ta cũng rút ra nhiều bài học để sống. Trong giới hạn của buổi tĩnh tâm hôm nay, xin được khép góc ở chương IV. Khởi đi từ “Bài ca đức mến” của thánh Phaolô.

“Bài ca đức mến” của Thánh Phaolô

“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,

Không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,

Không làm điều bất chính, không tìm tư lợi,

Không nóng giận, không nuôi hận thù,

Không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.

Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.

(1 Cr 13,4-7).

1.  Tình yêu thương thì “nhẫn nhục” (μακροθυμει) (macrothymei)

Trích và tìm hiểu Số 91. Từ μακροθυμει (macrothymei) trong tiếng Hy Lạp: kiên nhẫn, nhẫn nhục, trì chí, nhịn nhục : “Nhịn nhục” được định nghĩa là “kiên nhẫn chịu đựng sự sai trái hoặc khiêu khích, đồng thời vẫn hy vọng cải thiện mối quan hệ giữa đôi bên”. Chữ này không đơn giản chỉ nói tới việc “chịu đựng mọi sự”. Trong Cựu Ước nó còn mang ý nghĩa  “chậm nổi giận”,  Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và đầy nhân nghĩa, tín thành”. (Xh 34,6) ; "Ðức Chúa chậm giận và giàu ân nghĩa, chịu đựng lỗi lầm và tội ác (Ds 14,18). Cả trong tiếng Hippri lẫn Hy lạp cụm từ “nhẫn nhục” đều có nghĩa là: kiên nhẫn, kiềm chế và chậm giận. (xem. Ds 14,18; Gl 2,13; Gn 4,2; Tv 86,15; 103,8; 145,8; Nkm 9,17; Cn 14,29; 15,18; 16,32)

Bản văn của Thánh Phaolô khi dùng chữ này cần được đọc dưới sự soi sáng của Sách Khôn Ngoan, là Sách vốn tán dương sự kiềm chế (nén giận) của Thiên Chúa, cũng như mở ra không gian cho người tội lỗi có cơ hội ăn năn, mà vẫn nhấn mạnh tới uy quyền của Người. Sự “kiên nhẫn” của Thiên Chúa, được chứng tỏ qua lòng thương xót của Người đối với những người tội lỗi, là dấu chỉ uy quyền thực sự của Người. (xem Kn11,23; 12,2, 15-18) “Nhưng Người thương xót mọi người, vì Người toàn năng phép tắc”.

15“ Nhưng Người công minh,

Người điều khiển mọi sự cách công minh,

Người nghĩ rằng lên án kẻ không đáng phạt

là trái với quyền năng của Người.

16 Vì sức mạnh của Người là đầu mối công minh,

Người có quyền trên mọi sự,

khiến với mọi sự Người xử khoan dung.

17 Người tỏ bày sức mạnh,

khi có ai không tin Người quyền năng trọn hảo,

còn biết mà dám làm càn, Người trị tội to gan.

18 Nhưng tự chủ trên sức mạnh, Người lấy từ nhân xét xử,

Người quản cai chúng tôi với lượng cả bao dung,

vì sử dụng quyền năng là việc của Người, khi Người muốn.”

Số 92.

Nhẫn nhục hay kiên nhẫn không có nghĩa để mình luôn bị đối xử tệ, khoan thứ những vụ gây hấn thể lý hoặc để người khác lợi dụng ta. Hay cho phép người khác đối xử với ta như một đồ vật. ĐTC cho thấy vấn đề mất kiên nhẫn là khi nào ta tưởng mối liên hệ ấy hay người ấy hẳn phải hoàn hảo, hay khi ta đặt ta vào trung tâm và mong chờ mọi sự sẽ xoay chiều thuận lợi cho ta. Nhưng rồi mọi sự không theo ý muốn của mình và vì vậy mà mọi sự làm mình mất kiên nhẫn, mọi sự làm ta phản ứng một cách hung hăng. Nếu không vun đắp tính kiên nhẫn, ta sẽ luôn tìm kế bào chữa cho việc phản ứng đầy giận dữ. Kết cục ta sẽ mất hết khả năng sống với nhau, phản xã hội, không kiểm soát được các bốc đồng của ta, và gia đình ta sẽ trở thành bãi chiến trường.

Thư Êphêsô: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác” (Ep 4:31).

ĐTC dạy rằng: “Đức nhẫn nhục hay Kiên nhẫn được lớn lên, khi ta thừa nhận rằng người khác cũng có quyền sống trong thế giới này, cùng với tôi, trong con người hiện thực của họ... Lòng yêu thương luôn có khía cạnh cảm thương sâu xa dẫn ta tới chỗ chấp nhận người khác như là một phần thế giới này, ngay cả lúc họ hành động khác với ý thích của tôi” .

Áp dụng trong đời sống gia đình. Kiên nhẫn đón nhận người khác (người phối ngẫu) với những khác biệt của họ.

2. Nhân hậu χρηστευεται (chrestéuetai)

Lòng yêu thương phục vụ người khác

Số 93: “nhân hậu” χρηστευεται (chrestéuetai).  Bởi chữ gốc chrestós: người tốt lành, người tỏ lòng tốt bằng hành động. Từ này liên kết với từ trước nó makrotimei và được dùng như một bổ ngữ. Thánh Phaolô muốn minh xác rằng “kiên nhẫn” không phải là một thái độ hoàn toàn thụ động, nhưng là một thái độ được kèm theo bằng hành động, bằng tương tác đầy năng động và sáng tạo với người khác. Chữ này muốn xác định rằng lòng yêu thương có lợi ích và có tính giúp đỡ người khác. Vì lý do này, nó được dịch là “hiền hậu”; lòng yêu thương luôn sẵn sàng giúp đỡ.

Vì vậy tình yêu đích thực trong đời sống hôn nhân phải là tình yêu biết giúp đỡ người khác.

Số 94: ĐTC phân tích thêm cho ta thấy, trong bản văn thánh Phaolô nhấn mạnh tình yêu không chỉ là một cảm xúc thuần túy, mà nên hiểu nó theo nghĩa động từ “yêu” của tiếng Hípri; tức là “làm điều tốt”. Như Thánh Inhaxiô thành Loyola từng nói, “Lòng yêu thương được biểu lộ bằng hành động hơn là bằng lời nói”[1] (106). Nó biểu lộ hạnh phúc cho đi, tính cao thượng và vẻ cao cả của việc chúng ta tự cho đi một cách hào phóng không đòi được đền trả, chỉ vì niềm hân hoan được cho đi và phục vụ.

Trong ý nghĩa này chúng ta gặp thấy nơi tình yêu của Chúa Kitô yêu nhân loại. Ngài cho đi chính mạng sống của mình, Ngài đến phục vụ cho con người và phục vụ cho đến chết. Ngài chết cho người mình yêu. Tình yêu đích thực trong hôn nhân cũng phải là tình yêu phản ánh tình yêu của Chúa Giêsu, biết giúp đỡ người khác, biết phục vụ chứ không chỉ bắt người phối ngẫu phục vụ mình. Và phải tiến tời mức cảm thấy hạnh phúc và niềm vui khi được cho đi.

3. Tình yêu không ghen tương

Trích và khai triển số 95 trong Tông Huấn. “Tình yêu thì không ghen tương”. Chữ “ghen tương” do động từ zelos (ghen tương hay ghen tị) diễn tả như là trái ngược với lòng yêu thương. Điều này có nghĩa: lòng yêu thương không có chỗ dành cho việc không vui trước vận may của người khác (xem Cv 7:9; 17:5). Ghen tị là buồn bực trước một điều thiện hảo của người khác, nó chứng tỏ ta không quan tâm đến hạnh phúc của người khác mà chỉ tập chú vào lợi ích của ta. Trong khi yêu thương đưa chúng ta ra khỏi chính mình, thì ghen tị lại qui chúng ta trở về với cái tôi của mình”.

Ta rút ra mấy điểm về tình yêu đích thực từ Tông Huấn:

- Lòng yêu thương đích thực biết đánh giá cao các thành tựu của người khác.

- Nó không coi họ như môt đe dọa.

- Tình yêu đích thực giải thoát ta khỏi vị chua chát của lòng ghen tị.

- Tình yêu đích thực giúp ta nhận ra rằng mọi người đều có những ơn phúc khác nhau và mỗi người có một lối đi riêng ở trong đời. Nên trong khi ta cố gắng khám phá ra con đường tiến tới hạnh phúc của riêng mình, thì ta cũng để người khác tìm ra con đường riêng của họ. Nhu thế tình yêu đích thật đưa đến tự do, tôn trọng tự do của người khác.

 Ghen tị là cảm giác tức tối với người khác vì những gì họ có như tài sản, sự thịnh vượng, lợi thế v.v. Theo ý nghĩa của Kinh Thánh, từ thường được dịch là “ghen tị” không chỉ nói đến cảm giác muốn được bằng người khác mà còn muốn chiếm đoạt những gì họ có. Câu chuyện của Cain và Abel, Cain ghen tức với Abel đến nỗi giết chêt em. (St 4:4-8). Mười người anh của Giuse ghen tị khi thấy chàng được cha thương yêu hơn. Họ càng ghét Giuse hơn khi nghe chàng kể về những giấc mơ mang ý nghĩa tiên tri của mình họ muốn giết Giuse và cuối cùng bán luôn Giuse (St 37:4-11, 23-28, 31-33). Vua Sa-lô-môn đã thấy lòng ghen tị gây tai hại đến mức nào. Một phụ nữ có đứa con mới sinh bị chết. Bà cố lừa người phụ nữ ở chung nhà rằng con của người ấy là đứa bé đã chết. Khi vua Sa-lô-môn xét xử vụ kiện này, kẻ nói dối thậm chí tán thành việc giết đứa bé còn sống. Tuy nhiên, vua đã ra lệnh giao lại đứa bé cho người mẹ thật. (1 Vua 3:16-27). Trong thời đại chúng ta, có ông Kim Jong Un hiện là chủ tịch ở Bắc Triều Tiên, từ lúc ông lên nắm quyền lãnh đạo cao nhất đã xử tử hàng trăm người thuộc quyền ông[2]. Ngay cả những người ruột thịt trong gia đình cũng bị ông giết chết chỉ vì lòng ghen tị sợ họ sẽ tiếm quyền. Vừa rồi vào ngày 13/2/2017 báo chí đưa tin[3] vụ ám sát một người tên là Kim Chol mang hộ chiếu ngoại giao Triều tiên tại phi trường quốc tế Kuala Lumpur của Malaysia, mà ông Thủ Tướng Malaysia cũng như Hàn Quôc và Nhật Bản đều cho người bị sát hại chính là Kim Jong Nam[4], anh cùng cha khác mẹ với ông Kim Jong Un. Chỉ vì ông này có tư tưởng đổi mới và dám chỉ trích chế độ gia đình trị tại Bình Nhưỡng. Ông đã từng bị người em ra lệnh ám sát vào năm 2012 tại Triều tiên nhưng thoát chết. Như vậy ta thấy lòng ghen tị như là chất độc nếu không kềm chế sẽ biến con người thành ác độc, tàn nhẫn.

Số 96. Tóm lại, yêu thương có nghĩa là chu toàn hai giới răn cuối cùng của Lề Luật Thiên Chúa: “Ngươi không được ham muốn nhà người ta; ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta” (Xh 20,17). Tình yêu khơi lên một niềm quí trọng chân thành đối với mỗi người và nhìn nhận quyền được hạnh phúc của người khác. Tôi yêu con người này, và tôi nhìn người ấy với ánh nhìn của Thiên Chúa là Cha, Đấng trao ban cho chúng ta mọi sự “để chúng ta được hưởng dùng” (1 Tm 6,17), và như vậy, tôi chấp nhận trong lòng rằng người ấy có thể vui hưởng một khoảnh khắc hạnh phúc.

4. Tình yêu thương không vênh vang περπερευεται, không tự đắc (φυσιουται):

Trích và khai triển số 97 trong Tông Huấn. Diễn ngữ (περπερευεται), (perpereúetai) diễn tả sự vênh vang, Nghĩa là lo lắng về sự trỗi vượt của mình nhằm tạo ấn tượng trên những ngươi khác. Những người biết yêu thương không những tự chế, không nói quá nhiều về chính họ, mà còn tập chú vào người khác; họ không cần là tâm điểm để được chú ý. Chữ sau đó, (φυσιουται) (physioútai): kiêu căng, cũng tương tự như thế, cho thấy lòng yêu thương không ngạo mạn. Nó có nghĩa ta không tự “lên mặt” trước mặt người khác. Ta tự xem mình cao trọng hơn sự thực mình là, vì tưởng rằng mình “đạo đức” hơn hay “khôn ngoan” hơn. Thánh Phaolô còn dùng động từ này trong những trường hợp khác nữa, như khi ngài nói “sự hiểu biết sinh lòng kiêu ngạo, còn tình yêu thì xây dựng” (1 Cr 8,1). Một số người còn nghĩ rằng họ cao trọng vì họ hiểu biết hơn những người khác, và ra sức đòi hỏi và khống chế những người khác, trong khi điều thực sự làm ta cao trọng chính là một tình yêu biết cảm thông, quan tâm, và nâng đỡ những người yếu đuối. Trường hợp chồng “chúa vợ tôi” có những người chồng bắt vợ phục vụ mình như tôi tớ.

Trong số 98, ĐTC nói đến người Kitô hữu sống thái độ này trong cách họ cư xử với những người thân trong gia đình ít hiểu biết hơn mình về đức tin, họ là những người yếu đuối hoặc thiếu một xác tín chắc chắn. Đàng khác, lòng yêu thương có đặc điểm khiêm nhường; nếu ta muốn hiểu biết, tha thứ và phục vụ người khác với tấm lòng, thì ta phải chữa trị tính kiêu ngạo của ta để lòng khiêm nhường lớn mạnh. Đức Giêsu lưu ý các môn đệ rằng trong thế giới của quyền lực mỗi người đều tìm cách để thống trị kẻ khác, và bởi thế Người nói “giữa anh em thì không như thế” (Mt 20,26). Lối nghĩ về tình yêu Kitô giáo không phải là lối nghĩ của người đứng bên trên người khác và cần để họ biết đến quyền lực của mình, nhưng là lối nghĩ “ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20,27). Trong đời sống gia đình, luận lý học thống trị hay cạnh tranh ai là người thông minh nhất hay có quyền nhất sẽ tiêu diệt lòng yêu thương. Lời khuyên răn của Thánh Phêrô cũng được áp dụng vào gia đình: “anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5:5).

Có một người chồng tân tòng kể cho tôi nghe. Anh ta làm phép chuẩn khác đạo với vợ.  Khi về chung sống với nhau người vợ không hề nói gì với anh về đạo chị cứ để anh tự do theo tôn giáo của anh. Nhưng có một điều anh nhận thấy là tối nào cứ đúng 8g00 PM chị tắt tivi và thắp đèn bàn thờ đọc kinh, anh không biết chị đọc kinh gì với Chúa, nhưng thấy chị luôn kiên trì giữ giờ kinh như thế không bao giờ bỏ. Từ đó anh cảm phục chị, việc gia đình chị lo chu toàn hết và có đời sống đạo đức thất tốt anh thật sự bị lôi cuốn bởi chị và anh quyết định học đạo và rửa tội, bây giò tuy đạo mới nhưng anh cũng rất tích cực làm việc tông đồ, làm ông trùm trong họ đạo. Tôi nghĩ rằng chính thái độ khiêm tốn của người vợ, và âm thầm kiên trì cầu nguyện của chị đã đưa người chồng trở về với Chúa.

5. Lòng yêu thương không khiếm nhã (aschemonéi)

Trích và khai triển số 99. Diễn ngữ  aschemonei (ασχημονει): Từ ngữ này muốn nói rằng tình yêu thì không hành động thô lỗ, khiếm nhã, không cư xử gay gắt. Các cách thức, lời nói và cử chỉ của nó đem lại sự dễ chịu và không chua chát hay cứng cỏi. Tình yêu đích thực thì không muốn làm cho người khác đau khổ. Hòa nhã “là một trường học dạy sự mẫn cảm và tinh thần vô vị lợi”, nó đòi người ta “phải vun xới tâm tư và tình cảm của mình, học biết lắng nghe, ăn nói, và có những lúc cũng biết thinh lặng”[5]. Hòa nhã không phải là một lối sống mà một Kitô hữu có thể chọn lựa hay từ chối: nó là thành phần trong những đòi hỏi thiết yếu của tình yêu, bởi thế “mỗi người đều phải để tâm sống thuận thảo với những người xung quanh mình”.[6] Mỗi ngày, “việc bước vào đời sống của một người khác, ngay cả khi người ấy vốn đã là phần đời của mình, thì vẫn đòi hỏi một thái độ tế nhị không xâm phạm, điều này có sức làm mới lại niềm tin tưởng và sự kính trọng. Tình yêu càng thân mật và sâu xa, càng đòi hỏi tôn trọng tự do và khả năng chờ đợi người ấy mở cửa lòng ra”.[7] Trong đời sống hôn nhân người ta cũng dễ quên điều này, lúc đầu thì anh với em, sau một thời gian bà với tui, sau nữa là tao với mày…

Để gặp gỡ người khác cách chân thực và cởi mở, ĐTC gợi ý cần có “một cái nhìn nhân hậu” là điều chủ yếu (số 100). Nghĩa là tránh thái độ tiêu cực lúc nào cũng sẵn sàng vạch trần các thiếu sót của người khác trong khi làm ngơ các thiếu sót của mình.

- Cái nhìn nhân hậu giúp ta nhìn xa hơn các giới hạn của chúng ta, biết kiên nhẫn và hợp tác với người khác, bất chấp các dị biệt của ta.

- Những ai yêu thương đều có khả năng nói những lời phấn khởi, gây sức mạnh, an ủi, và khuyến khích, nói lời tích cực. Đó là các lời chính Chúa Giêsu từng nói: “Này con, cứ yên tâm!” (Mt 9:2); “này bà, lòng tin của bà mạnh thật!” (Mt 15:28); “Hãy trỗi dậy!” (Mc 5:41); “Hãy đi bình an!” (Lc 7:50; “Đừng sơ!” (Mt 14:27). Trong đời sống gia đình, ta cần học theo gương Chúa Giêsu để có những lời nói tích cực khích lễ nâng đỡ nhau.Thay vì nói hành nói xấu người này người kia.

6. Lòng yêu thương thì quảng đại (không tìm tư lợi)

Thường chúng ta hay lý luận rằng để yêu một người khác, ta phải yêu chính mình (số 101). Tuy nhiên, bài ca yêu thương của Thánh Phaolô quả quyết rằng lòng yêu thương “không tìm tư lợi” cũng không “tìm điều của riêng mình”. Cùng một ý tưởng này trong thư gửi giáo đoàn Philipphê: “Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2:4).  Như vậy sự quảng đại hiến thân cho người khác còn cao quí hơn cho tình yêu đối với chính bản thân mình. ĐTC nói: Ưu tiên yêu thương mình chỉ có thể được hiểu như một điều kiện tâm lí, xét vì ai không có khả năng yêu thương chính mình thì sẽ khó yêu thương người khác: “Xấu với bản thân thì tốt với ai được?

- ĐTC cũng trích dẫn thánh Tôma Aquinô đã giải thích rằng “đức ái hệ tại ở ước muốn yêu thương hơn là ước muốn được yêu thương”;[8] điển hình ở “những người mẹ, là những người yêu thương nhiều nhất, tìm cách để yêu hơn là để được yêu”.[9] Bởi thế, tình yêu có thể vượt lên trên sự công bằng và tuôn tràn một cách vô cầu mà “không hề hi vọng được đền đáp” (Lc 6,35), và đạt tới tình yêu vĩ đại nhất, đó là “việc hiến mạng sống mình” cho người khác (cf. Ga 15,13). Liệu một lòng quảng đại như thế, lòng quảng đại làm ta có thể dâng hiến một cách vô cầu, và dâng hiến cho đến cùng, còn có thể tồn tại không? Chắc chắn là có, bởi vì đó là điều Tin mừng đòi hỏi: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8).

7. Tình yêu không nóng giận không nuôi hận thù - (παροξυνεται) paroxýnetai (bị kích động)

Hôm nay người ta hay dùng từ “manh động”

Số 103. Nếu diễn ngữ thứ nhất trong bài ca của Thánh Phaolô nói tới việc phải kiên nhẫn, không phản ứng thô  lỗ ngay tức khắc đối với các yếu đuối và lỗi lầm của người khác, thì chữ kế tiếp ngài sử dụng là paroxýnetai (παροξυνεται), liên hệ nhiều hơn tới việc bất bình nội tâm do một điều từ bên ngoài gây ra. Nó chỉ phản ứng dữ dội từ bên trong, một sự nóng giận ẩn khuất khiến ta bực mình liên quan tới người khác, như thể họ gây rối hay đe dọa ta và do đó cần được xa tránh. Nuôi dưỡng thứ thù nghịch nội tâm như thế không ích lợi gì cho bất cứ ai. Nó chỉ gây mích lòng và ra xa lạ. Bất bình chỉ lành mạnh khi nó khiến ta phản ứng chống một bất công trầm trọng. “Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con-cái mình giận-dữ, hãy dùng sự sửa-phạt khuyên-bảo của Chúa mà nuôi-nấng chúng nó”. (Ê-phê-sô 6:4)

Số 104. - Tin Mừng dạy ta nhìn ra cái xà trong chính mắt ta (xem Mt 7:5). - “Đừng để sự ác thắng được mình” (Rm 12:21).- “Ta đừng mệt mỏi trong việc làm điều thiện” (Gl 6:9). Đột nhiên cảm thấy ước muốn trả thù là một chuyện mà chiều theo uớc muốn ấy, để nó bén rễ trong tâm hồn ta, là một chuyện khác:- “Hãy giận dữ nhưng đừng phạm tội; đừng để mặt trời lặn trên sự giận dữ của anh em” (Ep 4:26). - Lời khuyên của ĐTC là đừng để một ngày qua đi mà không làm hòa trong gia đình. “và để làm hòa chỉ cần một việc nhỏ mọn thôi, cũng đủ để hòa khí gia đình được tái lập. Chỉ một mơn trớn nhỏ, không cần phải nói năng chi. Nhưng đừng để một ngày qua đi mà không làm hòa trong gia đình bạn[10] - Làm điều tích cực: Phản ứng đầu tiên của ta khi ta bị làm phiền nên là một phản ứng chúc lành tận đáy lòng, xin Chúa chúc lành, giải thoát và chữa lành người kia. “Ngược lại, hãy chúc lành, vì anh em đã được kêu gọi làm việc này, ngõ hầu anh em nhận được phúc lành” (1Pr 3:9). Nếu phải đấu tranh một sự ác, thì hãy đấu tranh; - nhưng ta phải luôn nói “không” với bạo lực trong gia đình.

 8. Lòng yêu thương thì tha thứ - Không chấp nhất sự dữ (ou logízetai to kakón)

Số 105. Một khi đã bén rễ trong trái tim ta, ý xấu sẽ dẫn ta tới chỗ hận thù sâu xa. Câu ou logízetai to kakón có nghĩa: “không chấp nhất sự dữ”; “ghim nó trong lòng”. Đối nghịch với hận thù là tha thứ, đó là thái độ tích cực luôn tìm cách hiểu các yếu đuối của người khác để miễn thứ. Như Chúa Giêsu đã nói, “Lạy Cha, xin Cha tha thứ cho họ; vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Trong đời sống gia đình người ta cứ đi tìm hết lỗi này tới lỗi nọ, tưởng tượng ra đủ thứ ác lớn hơn, giả định đủ thứ ý xấu, và do đó, hận thù cứ thế gia tăng và sâu xa hơn. Cứ thế, mọi lỗi lầm hay thiếu sót từ phía người phối ngẫu đều có thể gây hại tới mối dây yêu thương và bền vững của gia đình. Sâu xa hơn nữa nếu không giải hòa được nó sẽ âm ỉ và có nguy cơ den đến đổ vở. Tránh coi mọi vấn đề đều nghiêm trọng như nhau; bởi vì như thế, ta sẽ dễ cay nghiệt một cách không thích đáng đối với các thiếu sót của người kia. Ước muốn chính đáng thấy các quyền của mình được tôn trọng sẽ trở thành nỗi khao khát trả thù hơn là bảo vệ phẩm giá ta cách hợp lý.

Số 106. Thực hành:

- Khi ta đã bị xúc phạm hay làm cho thất vọng, sự tha thứ đáng mong ước, nhưng không phải là chuyện dễ dàng. - Cần có tinh thần hy sinh lớn lao mới duy trì được sự hiệp thông trong gia đình . - Đòi hỏi mỗi người và mọi người phải sẵn sàng và quảng đại mở lòng mình ra để hiểu, để chịu đựng, để tha thứ, để hòa giải. Không hề có gia đình nào lại không biết đến ích kỷ, bất hòa, căng thẳng và tranh chấp, tấn công bạo động và đôi khi gây tử thương cho cuộc hiệp thông của họ: do đó, mà xuất hiện nhiều hình thức chia rẽ đa dạng trong đời sống gia đình” (113).

Số 107. Ngày nay, ta nhìn nhận rằng để có thể tha thứ cho người khác, ta cần tới kinh nghiệm giải thoát biết tự hiểu và tha thứ cho chính mình… Ta cần học cách cầu nguyện cho dĩ vãng của mình, để biết chấp nhận chính ta, học cách sống với các hạn chế của ta, và thậm chí tha thứ cho chính ta, để có được cùng một thái độ như thế đối với người khác.

Số 108. -Và trên hết là chính ta có kinh nghiệm được Thiên Chúa tha thứ, được ơn thánh của Người công chính hóa chứ không phải do công phúc của riêng ta. Ta cảm nghiệm được một lòng yêu thương đi trước bất cứ cố gắng nào của ta, một lòng yêu thương không ngừng mở cửa, cổ vũ và khích lệ. Một tình thương tha thứ vô điều kiện và không thể mua bán được của Thiên Chúa đối với ta thì ta mới có thể tha thứ cho người xúc phạm đến mình.

9. Lòng yêu thương vui với người khác

Số 109. Diễn ngữ chairei epi te adikia cho thấy một cái gì đó tiêu cực ẩn sâu trong lòng người ta. Đó là thái độ độc ác của người vui mừng khi thấy người khác phải chịu sự bất công “không mừng trước sự bất công”. Diễn ngữ này được bổ nghĩa bởi cụm từ theo sau: synchairei te aletheia diễn tả điều tích cực, có nghĩa là “vui khi thấy điều chân thật”. Nói cách khác, chúng ta vui mừng về điều tốt lành của người khác, khi phẩm giá của họ được nhìn nhận, khi các khả năng và các việc tốt của họ được trân trọng. Trong gia đình thường gặp cả với vợ hoặc chồng mình, khi mà hết thương rồi đến độ ngầm vui mừng trong lòng trước những thất bại của người ấy.

Số 110- Thực hành: - Hãy có Niềm vui yêu thương, niềm vui mừng khi thấy điều tốt lành cho người khác thì chính họ cũng cảm thấy vui, và bằng cách ấy họ tôn vinh Thiên Chúa, vì “ai vui vẻ dâng hiến thì được Thiên Chúa yêu thương” (2 Cr 9,7). - Chúa chúng ta đặc biệt trân trọng những ai tìm thấy niềm vui trong hạnh phúc của người khác. Nếu chúng ta không nuôi dưỡng khả năng của chúng ta biết vui hưởng trước những điều tốt lành của người khác mà chỉ chủ yếu tập trung vào các nhu cầu của mình, thì chúng ta đang tự đày đọa mình sống thiếu niềm vui, như Đức Giêsu nói: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Gia đình phải luôn là nơi mà bất cứ ai ở trong đó làm được điều gì tốt đẹp trong cuộc sống, đều biết rằng ở đó mọi người cũng sẽ mừng về điều ấy với mình. 

10. Lòng yêu thương tha thứ tất cả παντα  στεγει (panta stegei)

Số 111. Bài ca đức mến hoàn tất danh mục với bốn diễn ngữ nói lên tính toàn thể: “tất cả”. [Tình yêu] tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hi vọng tất cả, chịu đựng tất cả.

Số 112. Trước hết, [tình yêu thì] “tha thứ tất cả” (panta stegei). Điều này thì khác với việc “không chấp nhất sự dữ”, bởi vì từ này có liên quan tới việc sử dụng cái lưỡi; nó có thể có nghĩa là “giữ thinh lặng” về một điều tiêu cực có thể có nơi người khác. Nó nghĩa hạn chế sự xét đoán, kiềm giữ khuynh hướng muốn làm bật ra một lời lên án nghiệt ngã và bất nhẫn: “Đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị xét đoán” (Lc 6,37). Lời Thiên hàm Chúa bảo chúng ta cho dẫu đi ngược lại với thói quen sử dụng cái lưỡi của mình: “Đừng nói xấu nhau, thưa anh chị em” (Gc 4,11). ĐTC nói: bôi nhọ hình ảnh người khác là một cách tôn tạo hình ảnh của mình, nhằm trút sự oán hận và ghen tị mà không lưu tâm đến tai hại mình có thể gây ra. Rất nhiều khi người ta quên rằng phỉ báng người khác có thể là một tội lớn; một xúc phạm nghiêm trọng đến Thiên Chúa, khi nó xâm phạm nặng nề đến thanh danh của người khác và gây ra những tổn thất rất khó sửa chữa. Vì thế Lời Chúa tuyên bố cứng rắn về cái lưỡi khi nói rằng nó “là thế giới của sự ác”, nó “làm cho toàn thân bị ô nhiễm đốt cháy toàn thể cuộc đời” (Gc 3,6); nó là một “sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người” (Gc 3,8). Nếu như cái lưỡi có thể được dùng để “nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa” (Gc 3,9), thì tình yêu lại trân trọng hình ảnh của người khác một cách tinh tế đến nỗi cả bảo vệ thanh danh của kẻ thù. Chúng ta không bao giờ được quên đây chính là đòi hỏi  này của tình yêu.

Số 113. - Thực hành: Những đôi vợ chồng yêu thương nhau và thuộc về nhau nói tốt về nhau, họ tìm cách nêu lên mặt tốt của người bạn đời chứ không phải điểm yếu hay những sai lầm của người ấy.

-Bất luận trường hợp nào, đều giữ im lặng để không làm hại thanh danh người kia.

- Hành động này xuất phát từ một thái độ nội tâm. Họ nhắc nhớ rằng những khuyết điểm ấy chỉ là một phần chứ không phải là toàn bộ bản thân của người kia. Nguyên tắt: Một sự bất bình trong quan hệ không là tất cả mối quan hệ. (sự kiện Malaysia và Bắc Triều Tiên)

- Hãy nhớ rằng mỗi người đều mang trong mình một hỗn hợp của ánh sáng và bóng tối. Tình yêu sống chung với sự bất toàn, “dung thứ tất cả” và biết im lặng trước những giới hạn của người mình yêu.

11. Lòng yêu thương tin tưởng mọi sự (παντα πιστευει) Panta pisteúei

 Số 114. Diễn ngữ Panta pisteuei. [Tình yêu] “tin tưởng tất cả”.  Theo nghĩa “tin tưởng” mà chúng ta vẫn dùng. Vấn đề không chỉ là không nghi ngờ người kia đang nói dối hay lừa lọc ta, nhưng sự tin tưởng căn bản ấy còn nhận ra ánh sáng được thắp lên bởi Thiên Chúa khuất ẩn đàng sau bóng tối, hoặc như cục than hồng vẫn còn cháy đỏ bên dưới đống tro.

Số 115. Thực hành: - Tình yêu thì tin tưởng, để cho họ tự do, từ chối kiểm soát mọi sự, chiếm hữu, thống trị. Sự tự do này, vốn có thể tạo ra những không gian độc lập, mở ra với thế giới và đón nhận những kinh nghiệm mới, giúp các tương quan thêm phong phú và mở rộng.

- Bằng cách đó, vợ chồng sẽ san sẻ cho nhau niềm vui về tất cả những gì họ lãnh nhận và học được từ bên ngoài phạm vi gia đình.

- Đồng thời, tự do giúp người ta có được sự chân thành và minh bạch, vì khi biết rằng mình được những người khác tin tưởng và chân tình quí trọng lòng tốt thì sẽ cởi mở mà không giấu diếm điều gì. - Nếu một thành viên biết rằng những người khác luôn nghi ngờ mình, hoặc xét đoán mà không chút cảm thương và không yêu thương mình vô điều kiện, thì người đó sẽ có khuynh hướng giữ kín các bí mật của mình, che giấu các tội lỗi và yếu đuối của mình, và sống giả dối. Trái lại, một gia đình mà trong đó có sự tin tưởng vững vàng đầy yêu thương ngự trị, sẽ là nơi cho người ta luôn quay về trong tin tưởng dẫu cho bất cứ điều gì xảy ra, gia đình ấy sẽ giúp các thành viên sống căn tính đích thật của mình, và đương nhiên loại trừ sự lừa gạt, giả tạo, và dối trá.

 12. Tình yêu thương hy vọng mọi sự- παντα ελπιζει (Panta elpízei)

 Số 116. Panta elpizei: Tình yêu không thất vọng về tương lai. Tiếp nối từ ngữ trước, diễn ngữ này chỉ niềm hi vọng của người biết rằng người khác có thể thay đổi. Luôn hi vọng người khác một ngày nào đó có thể trưởng thành bất ngờ tỏa ra vẻ đẹp cũng như những tiềm năng chưa từng được biết. Điều này không có nghĩa là mọi sự sẽ thay đổi trong cuộc đời này. Từ đó biết chấp nhận rằng, dù mọi sự có thể không xảy ra như ta mong ước, Thiên Chúa vẫn hoàn toàn có thể uốn thẳng những đường cong và rút ra điều tốt lành nào đó từ sự dữ mà chúng ta phải chịu trong thế giới này. Đức cha Emmanuel: Đừng đóng kín con đường ân sủng, đừng làm nản lòng bất kỳ ai…Không có một toa thuốc chung[11].

Số 117.  Nói đến niềm hy vọng mang tính cánh chung. Hy vọng sẽ tiến tới chỗ trọn vẹn nhất là sự sông đời sau - Mỗi người, bất chấp mọi sai phạm của họ, đều được kêu gọi bước vào sự viên mãn của sự sống trên thiên đàng. Ở đấy, vì hoàn toàn được sự phục sinh của Chúa Kitô biến đổi, mọi yếu đuối, tối tăm và nhược điểm đều sẽ mất dạng. Ở đấy, hữu thể thực sự của người ta sẽ sáng lên trong mọi vẻ tốt lành và đẹp đẽ của họ. 

13. Lòng yêu thương chịu đựng mọi sự- παντα υπομενει (Panta hypoménei).

 Số 118. Panta hypomenei có nghĩa là [tình yêu] chấp nhận mọi sự trái ý với một tinh thần tích cực. Nghĩa là [tình yêu thì] đứng vững ngay giữa lòng môi trường thù nghịch. Không chỉ liên quan đến việc chịu đựng một số phiền hà, mà còn hơn thế nữa: một sự đề kháng năng động và liên tục, có khả năng vượt qua mọi thách đố. Đó là một tình yêu bất chấp tất cả, ngay cả trong những lúc hoàn cảnh lôi kéo sang hướng khác. Nó chứng tỏ một mức độ anh hùng can trường nào đó, một sức mạnh chống lại mọi trào lưu tiêu cực, một chọn lựa điều thiện không gì có thể lật đổ. Ở đây ĐTC nhắc đến những lời của Martin Luther King, khi xác nhận lại lựa chọn tình huynh đệ ngay giữa các cuộc bách hại và bị sỉ nhục tồi tệ nhất: “Người mạnh là người có thể chặt đứt dây xích oán hận, dây xích của sự dữ… Một ai đó phải có đủ ‘lòng tin’ và có ‘đạo đức’ để chặt đứt dây xích ấy và đưa vào trong chính cấu trúc của thế giới này yếu tố tình yêu mạnh mẽ đầy quyền năng”.[12]

Thực hành: -Trong đời sống gia đình, cần vun xới sức mạnh của tình yêu này, điều giúp chúng ta chiến đấu chống lại sự dữ đe dọa gia đình. -Tình yêu không để mình bị không chế bởi lòng oán hận, bởi sự coi thường người khác, bởi ước muốn gây tổn thương hoặc trả thù. - Lí tưởng Kitô giáo, đặc biệt trong gia đình, là tình yêu bất chấp mọi sự. (Câu chuyện mục vụ “đám cưới trên xe lăn” một kinh nghiệm mục vụ về tình yêu bất chấp tất cả tại giáo họ biệt lập Hòa Lâm vào khoảng 2001. Năm tôi mới thụ phong Linh mục 2001, tôi được Đức Cha sai về làm phó xứ Hòa Xuân đồng thời Đặc trách giáo họ Hòa Lâm...)


Kết luận

Trong đoạn cuối của Tông huấn ĐTC cho thấy không có gia đình nào hoàn hảo cả. Vì vậy mà ngài mời gọi các gia đình hãy bước đi cùng nhau, hãy nổ lực tiến đến điều cao cả hơn, hãy trưởng thành trong khả năng yêu thương và không ngừng tìm kiếm sự tròn đầy của tình yêu và sự hiệp thông mà Thiên Chúa đặt ra cho chúng ta.

“Không một gia đình nào rơi từ trên trời xuống được hình thành cách hoàn hảo cả; các gia đình cần liên lỉ lớn lên và trưởng thành trong khả năng yêu thương...Tất cả chúng ta đều được mời gọi để nỗ lực tiến đến một điều gì đó cao cả hơn chính bản thân chúng ta và gia đình chúng ta, và mọi gia đình phải cảm thấy động lực liên lỉ này. Chúng ta hãy thực hiện cuộc hành trình này như một gia đình, chúng ta hãy bước đi cùng nhau. (...) Chớ gì chúng ta không bao giờ nản lòng vì những giới hạn của chúng ta, hoặc dừng lại việc tìm kiếm một sự tròn đầy của tình yêu và sự hiệp thông mà Thiên Chúa đang đặt ra trước mắt chúng ta” (AL 325).



[1] Inhaxiô Loyola, Linh thao, Chiêm ngắm để được tình yêu (Esercizi spirituali, Contemplazione per raggiungere l’amore),230.

[2]Yonhap đưa tin, Viện Chiến lược an ninh quốc gia, một tổ chức nghiên cứu thuộc Cơ quan an ninh quốc gia Hàn Quốc, đã công bố sách trắng có tựa đề “Sai lầm của ông Kim Jong-un trong 5 năm nắm quyền”, tiết lộ chi tiết cách thức nhà lãnh đạo Triều Tiên dùng các vụ xử tử để củng cố quyền lực.

Theo tài liệu trên, Triều Tiên đã xử tử tổng cộng 340 người dưới thời lãnh đạo của ông Kim Jong-un, trong số đó có 140 quan chức cấp cao trong chính quyền, quân đội và đảng Lao động Triều Tiên. Một trong những quan chức bị xử tử là người chú dượng từng giữ vị trí quyền lực, Jang Song-thaek, vốn bị xử tử vào năm 2013 vì tội phản quốc” (Nguồn: <http://dantri.com.vn/the-gioi/trieu-tien-xu-tu-340-quan-chuc-ke-tu-khi-ong-kim-jong-un-len-nam-quyen-20161230043145028.htm>

[3] Nguồn: vụ ám sát Kim Jong Nam, BBC online 15 th02 2017 xem <http://www.bbc.com/vietnamese/live/world-38982363>

[4]Kim Jong-nam, 46 tuổi, là anh cùng cha khác mẹ với lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong-un.

Ông là con ngoài giá thú của Kim Jong-il với bà Sung Hae-rim, một diễn viên gốc Nam Hàn, người đã qua đời tại Moscow. Năm 2001, ông Kim bị bắt khi tìm cách nhập cảnh Nhật Bản bằng hộ chiếu giả. Vụ này khiến ông bị thất sủng với cha. Từ đó Kim Jong-nam sống cuộc đời thầm lặng chủ yếu ở nước ngoài, nhất là Macau. Ông được cho là theo xu hướng muốn cải cách kinh tế ở Bắc Hàn và do vậy bất hòa với em trai Kim Jong-un. Trong quá khứ, ông Kim Jong-nam đã từng bị ám sát hụt. Kim Jong-nam dường như bị tấn công bằng hóa chất khi chuẩn bị lên máy bay về Macau từ sân bay Kuala Lumpur hôm 13/2 nhưng vụ việc chỉ vỡ lở hôm 14/2”. (theo BBC online  15 th02 2017).

[5] Octavio Paz, La llama doble, Barcelona, 1993, 35.

[6] ST II-II, q. 114, a. 2, ad 1.

[7] HG (13.5.2015): L’Osservatore Romano, 14.5.2015, tr. 8.

[8] ST II-II, q. 27, a. 1, ad 2.

[9] ST II-II, q. 27, a. 1.

[10] Bài Giáo Lý (13 tháng 5, 2015): L’Osservatore Romano, 14 tháng 5, 2015, p. 8.

[11] ĐGM Emmanuel Nguyễn Hống Sơn, thường huần linh mục giáo phận Bà Rịa, tháng 1/2017.

[12] Martin Luther King Jr., Bài giảng trong Nhà thờ Battista ở Dexter Avenue, Montgomery, Alabama, 17.11.1957.

Đọc tiếp »

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

Lời loan báo tuyệt vời cho mọi người trẻ

 

L.m. Gioan B. Trương Đình Hà

 

 

 

 

 

 

LỜI LOAN BÁO TUYỆT VỜI

CHO MỌI NGƯỜI TRẺ

 

 

Tìm hiểu học hỏi

Tông Huấn Christus Vivit

(Chúa Kitô đang sống)

Của Đức Thánh Cha Phanxicô

 

 

 

Chia sẻ thường huấn - Linh mục giáo phận Bà Rịa

Tháng 05/2021

Dẫn nhập

Tông Huấn Christus Vivit của Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành vào ngày 25 tháng 3 năm 2019, được coi là Tông Huấn đúc kết của Thượng Hôi Đồng Giám Mục thế giới về người trẻ."Người trẻ, đức tin và việc phân định ơn gọi" được tổ chức tại Vatican từ ngày 3 đến ngày 28 tháng 10 năm 2018. Tông Huấn gồm có 9 chương với 299 số, trong đó 4 số đầu như dẫn nhập vào Tông Huấn và số 299 như một mong ước gửi đến người trẻ để kết thúc Tông Huấn.

Có thể thấy Tông huấn của ĐTC Phanxicô như một bức tâm thư gửi đến người trẻ, với những lời đầy thân tình, yêu thương và gần gũi.

Bài chia sẻ này được khép góc với chủ đề: Lời loan báo tuyệt vời cho mọi người trẻ, chương 4 (từ số 111-133):

Có thể nói chương bốn là chương trọng tâm của Tông Huấn, chương này có 22 số. Nội dung chương này, Đức Thánh Cha nói với giới trẻ điều quan trọng, ưu tiên hàng đầu, điều không bao giờ được bỏ qua. Đó là một lời loan báo gồm ba chân lý trọng đại: Thiên Chúa là tình yêu, Đức Kitô cứu độ con, và Đức Kitô đang sống. ĐTC cũng nói về Chúa Thánh Thần là Thần Khí ban sự sống (130)

1. Chân lý thứ nhất: Thiên Chúa là tình yêu

Thiên Chúa yêu chúng ta, rằng chúng ta đừng bao giờ nghi ngờ điều đó, cho dù bất cứ điều gì xảy ra trong đời ta, bất cứ hoàn cảnh nào, ta cũng được Chúa yêu thương vô tận. (112)

Thiên Chúa Cha khác với một người cha trần thế, có thể các bạn trẻ từng có kinh nghiệm về một người cha thống trị và chiếm hữu, một người cha có thể không quan tâm đến con mình. Nhưng Thiên Chúa là một người Cha mà các bạn trẻ có thể an tâm lao vào vòng tay của Người. Nơi Người các bạn tìm được sự sống vì Người là sự sống và tiếp tục trao ban sự sống của Người mọi lúc, Người sẽ nâng đỡ và hoàn toàn tôn trọng tự do của bạn. (113)

1.1. Tình yêu của Thiên Chúa đa dạng và phong phú

ĐTC đã chứng minh chân lý Thiên Chúa là tình yêu và Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu của Ngài bằng nhiều cách thức khác nhau được diễn tả trong Kinh Thánh:

- Một tình yêu gần gũi, thân mật như cha mẹ yêu thương chơi đùa với con cái mình: “Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng. Ta xử với chúng như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má” (Hs 11,4 ).

- Tình yêu Thiên Chúa cũng sánh ví với tình yêu của người mẹ không thể bỏ con mình:

“Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.” (Is 49,15). Vậy mà khi xem tin tức hàng ngày có nhiều người mẹ đã bỏ con mình, vụ xảy ra gần đây ở Hà Nội, được báo chi loan tin trong tuần qua, vào khoảng 17h50 phút, tối ngày 18/8, người dân trú tại nhà trọ số 45 phố Đào Nguyên A, thị trấn Trâu Quỳ đã bất ngờ phát hiện bé sơ sinh bị bỏ rơi dưới khe giữa 2 tường của 2 dãy nhà trọ. Bé trai sơ sinh có trọng lượng khoảng 2,2kg. Bé được sơ cứu tại Trạm y tế thị trấn Trâu Quỳ và sau đó, sơ cứu, cắt rốn và tắm tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lâm. Theo báo Người lao động ngày ngày 25/4/2019 tại nhà máy xử lý rác tại Cà Mau đã phát hiện trên 300 thai nhi bị vứt bỏ trong những cái hủ.

- Một tình yêu tha thiết đến nỗi họa hình người yêu trên lòng bàn tay: “Hãy xem, Ta đã ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta” (Is 49,16).

- Một tình yêu mạnh mẽ bền vững “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay” (Is 54,10).

Thiên Chúa cho chúng ta thấy rằng, chúng ta không hiện diện trong trong thế giới này như một sự tình cờ mà là ngay từ nguyên thủy chúng ta đã có mặt trong kế hoạch yêu thương của Chúa “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng chung thủy của Ta” (Gr 31, 3).

Tình yêu của Thiên Chúa sâu thẳm, được diễn tả như một người yêu thật sự nhìn thấy vẻ đẹp của người mình yêu mà không ai nhận ra “Vì trước mắt Ta, ngươi thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương” (Is 43:4). Triết gia Socrates có người vợ bị chột mắt, ông nói rằng nhìn em rồi anh thấy tất cả các phụ nữ khác đều dư một con mắt. Nghĩa là ông nhận ra vẻ đẹp nơi người vợ chột mắt của mình mà không có ai nhận ra.

Trong cuộc sống đễ thấy tình yêu của con người có thể mờ nhạt, buồn tẻ và hay đổi thay, nhưng Thiên Chúa cho ta thấy tình yêu của Ngài luôn mới mẻ, không tẻ nhạt và đầy hoan hỉ mỗi khi chúng ta đến với Chúa “ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh, là Đấng anh hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi. Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng” (Sp 3,17).

1.2. Tình yêu của Thiên Chúa quãng đại

Tình yêu Của Chúa không lưu giữ tội lỗi của ta, nhưng là một tình yêu xóa đi những lỗi lầm thiếu sót của ta. Con người đối với Chúa thật quý giá vì là công trình tạo dựng của Ngài. (115)

ĐTC mời gọi giới trẻ hãy tin vào :trí nhớ của Thiên Chúa", trí nhớ của Chúa không phải như một "ổ cứng" (hard disk) chỉ ghi nhận và lưu giữ. Trí nhớ của Chúa là một con tim đày nhân ái, dịu dàng và thương cảm. Ngài vui mừng ôm chúng ta vào lòng như hình ảnh của người cha nhân hậu, và xóa đi tất cả những vết tích, tội lỗi, hư hỏng của chúng ta. Thiên Chúa không muốn nhớ đến những sai lỗi của ta. Ngài luôn giúp chúng ta học được điều gì đó từ những vấp ngã của mình. Bởi vì Ngài yêu ta, hãy dành những phút giây thinh lặng để tựa đầu vào ngực Chúa và buông mình trong vòng tay yêu thương của Chúa (115).

1.3. Tình yêu không áp đặt hay đè bẹp

"Đó là tình yêu của Chúa, một tình yêu mọi ngày, kín đáo và tôn trọng, một tình yêu tự do và giải thoát, một tình yêu chữa lành và nâng dậy. Đó là tình yêu của Chúa, Đấng biết nhiều về việc nâng lên hơn là đạp xuống, về việc hòa giải hơn là cấm đoán, về việc trao ban cơ hội mới thay vì lên án, nhìn đến tương lai hơn là về quá khứ”[1]. (116) Còn tình cảm của con người với lối hành xử thường hay đi ngược lại với cách hành xử của tình yêu của Thiên Chúa.

1.4. Tình yêu của Thiên Chúa chân thực và cụ thể

Tình yêu của Chúa ban cho ta một mối quan hệ đầy đối thoại chân thành và hiệu quả (117)

Thiên Chúa đã để ta đối diện với những thách đố trong cuộc đời, đó là lúc Chúa mong chúng ta để cho Ngài thúc đẩy, động viên và giúp ta trưởng thành. Trong sách Sáng thế có nói đến cuộc vật lộn của Giacóp với Thiên Chúa (St 32, 25-31) cho thấy Thiên Chúa muốn con người đối thoại trực tiếp với Ngài.

2. Chân lý thứ hai: Đức Kitô cứu độ con

ĐTC đã triển khai trong nhãn quang cứu độ học.

- Vì yêu thương ta, Chúa Kitô đã hiến mình đến chết để cứu độ ta. Đôi tay của Người dang ra trên thập giá là dấu chỉ cao quý nhất của một tình bạn đi đến cùng Người yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người đã yêu họ cho đến cùng” (Ga 13: 1). Thánh Phaolô cũng khẳng định điều đó “Hiện nay tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, là Ðấng đã yêu thương tôi và đã hiến mạng sống Mình vì tôi” (Gal 2:20).

Ngày nay, các bạn trẻ thường bị lôi cuốn vào những lý thuyết khác, những tôn giáo khác cũng có những bậc thánh hiền, dễ đi đến cào bằng mọi giá trị "đạo nào cũng là đạo" mà quên đi Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất. Vì vậy ĐTC đã giúp người trẻ sống mạnh ơn cứu độ do Đức Kitô mang đến. Nếu Đức Kitô đã cứu thoát chúng ta khỏi tội lỗi nhờ hiến tế thập giá của Ngài thì hôm nay chính nhờ quyền năng tự hiến ấy, Ngài tiếp tục cứu độ và chuộc tội chúng ta. Các con hãy nhìn lên Thánh Giá của Người, bám chặt lấy Người, để Người cứu chúng con, bởi vì “những ai đón nhận ơn cứu độ của Người, được Người giải thoát khỏi tội lỗi, buồn rầu, cô lập và trống rỗng nội tâm”.[2] Và nếu các con phạm tội và lạc xa Người, Người sẽ đến nâng các con dậy bằng quyền năng Thập Giá của Người. Đừng bao giờ quên rằng “Người tha thứ bảy mươi lần bảy. Hết lần này đến lần khác Người lại đến để vác chúng ta trên vai của Người. (119)

- Trong cõi nhân sinh, không ai có thể tha tội chỉ trừ một mình Thiên Chúa. Vì Chúa yêu ta nên Chúa đã cứu ta khỏi tội. Tinh yêu Chúa lơn hơn tất cả những mâu thuẫn, những yếu đuối và nhỏ nhen ích kỷ của ta. Khi ta sa ngã, sức mạnh của ơn tha thứ bằng máu cứu độ của Chúa đủ sức nâng ta chỗi dậy và đổi mới tâm hồn ta. ĐTC nói Vì sự sa ngã tồi tệ nhất, là sự sa ngã có thể tiêu hủy cuộc đời chúng ta, chính là nằm yên dưới đất mà không để cho ai giúp đỡ mình[3]. (120). Chúng ta có thể thấy tư tưởng tương tự của Socrates: "Ngã xuống không phải là thất bại. Thất bại đến, khi bạn ở nguyên nơi mình ngã" (Falling down is not a failure. Failure comes when you stay where you have fallen - Socrates).

- Như thế ơn cứu độ và sự tha thứ của Chúa trên Thập giá là điều lớn lao vô cùng mà người ta không thể nào mua được hoặc đạt được bằng nổ lực của mình; hoặc cũng không thể lấy gì đáp đền. Nói như Á Thánh Anrê Phú Yên "lấy tình yêu đáp lại tình yêu, lấy mạng sống báo đền mạng sống". Ta chỉ có thể đón nhận với lòng biết ơn vô hạn.

- Từ lòng biết ơn đó ĐTC dẫn người trẻ suy tư về chính mình, con người mình rất qúy giá vì được Cứu Độ bằng máu châu báu của Chúa Kitô; vì thế người trẻ phải nổ lực và đề phòng đừng để mình bị dụ dỗ và trở thành món đồ để bán đấu giá, bị nô lệ hóa bởi những ý thức hệ và tư tưởng xa lạ để rồi trở thành những kẻ nô lệ, nghiện ngập và cuộc đời hư hỏng. Ngài giúp các bạn trẻ sống mạnh mẽ can đảm nói lên rằng: Tôi không phải là đồ bán đấu giá, tôi vô giá. Tôi là người tự do! Chính ơn cứu độ của Chúa giải thóat con người khỏi nô lệ tội lỗi và làm cho con người được tự do. Vì vậy các bạn trẻ hãy quý sự tự do mà Chúa Giêsu ban tặng (122)

 - Với ơn cứu độ Chúa ban, các bạn  hãy luôn đến với bí tích Hòa Giải để mình được cứu độ hết lần này đến lần khác, hãy vững tin vào lòng thương xót của Chúa và để mình được tẩy sạch và đổi mới tâm hồn bằng máu cứu độ của Chúa. (123)

3. Chân lý thứ ba: Chúa Kitô đang sống

ĐTC nhấn mạnh vì Đức Kitô là Đấng Cứu Độ nên Người đang sống, chân lý này gắn liền với chân lý trước. ĐTC nhấn mạnh bởi vì chúng ta có nguy cơ coi Chúa Giêsu Kitô chỉ như một gương sáng trong quá khứ, như một kỷ niệm, như một Đấng đã cứu chúng ta hai ngàn năm về trước. (124) ý tưởng này nhắc nhớ chúng ta điều gì? Đó chính là Tuyên Ngôn Dominus Jesus của Hồng y Joseph Ratzinger, sau này là ĐTC Benedictô XVI, (được ĐTC Gioan Phaolô II phê chuẩn ngày 6-8-2000). Chúng ta cũng nên quay lại để nhắc nhớ một chút về Tuyên Ngôn này.

3.1. Tuyên ngôn Dominus Jesus

Bản Tuyên Ngôn Dominus Jesus đã tuyên xưng lại niềm tin của Giáo Hội : Tính cách duy nhất của Chúa Kitô và tính cách duy nhất của Giáo Hội. Duy nhất nhưng phổ quát, hoàn vũ. «Vì tính cách duy nhất của Thiên Chúa, của Chúa Kitô và của Giáo Hội sẽ làm chói sáng tính cách phổ quát của Tình Yêu, của đức tin và của ơn cứu rỗi mà Chúa Kitô mang đến trong thế giới.»[4]

Lý do có Tuyên ngôn là vì xuất hiện các khuynh hướng của các thần học gia hiện đại, đặc biệt các thần học gia Á Châu có tính rộng rãi bao dung tôn giáo. "Khi sống chung và tiếp xúc với các tôn giáo khác tại Á Châu, nhiều thần học gia Á Châu nhận ra rằng:

– Các tôn giáo khác cũng có một nền giáo lý thâm sâu, kỳ diệu, với những bộ kinh điển rất tuyệt vời, càng khám phá càng cảm thấy sự sâu xa ẩn bí của chúng mà đầu óc con người khó có thể nghĩ ra được. Các tín đồ các tôn giáo này cũng tin rằng những kinh điển ấy là do chính Thượng Đế mạc khải cho họ qua các tác giả viết kinh (chẳng hạn trong Ấn giáo, Hồi giáo, Cao Đài giáo…)

– Tôn giáo nào cũng chủ trương phải giác ngộ một Thực Tại Tối Hậu có những thuộc tính căn bản như Thiên Chúa của Kitô giáo: tự hữu, không sinh không diệt, tuyệt đối, duy nhất, vô biên, siêu việt, không thay đổi, làm nền tảng hiện hữu cho tất cả muôn loài vạn vật, v.v… Thực Tại Tối Hậu ấy chỉ khác với Thiên Chúa của Kitô giáo ở một vài thuộc tính như: có ngôi vị chứ không phải vô ngã vị, tạo dựng chứ không phải thể hiện thành vạn vật, đầy yêu thương chứ không phải vô tình đối với vạn vật, toàn thiện chứ không phải siêu việt thiện ác…

– Những giáo lý hay kinh điển ấy cũng có khả năng giáo hóa dân chúng rất cao và hữu hiệu, không phải chỉ về mặt luân lý mà còn về mặt tâm linh. Chính nhờ có các tôn giáo như Ấn, Phật, Khổng, Lão, mà một thế giới «phi Kitô giáo» như Á Châu, mới có được một đời sống tâm linh cao, và một nền luân lý tốt đẹp như hiện nay, không đến nỗi quá kém so với thế giới «Kitô giáo» của Âu châu.

– Trong thực tế, các tôn giáo ấy đã đào tạo nên biết bao con người rất tuyệt vời, khá hoàn hảo, sáng suốt, vị tha, dũng cảm, nhiều khả năng hy sinh… Rất nhiều người đã tìm được ý nghĩa của đời sống, cảm thấy được giải thoát khỏi những ràng buộc trần thế, và sống một cuộc đời rất siêu thoát nhờ giáo lý vi diệu của những tôn giáo ấy.

Vì thế, nhiều thần học gia Á Châu đã có những khuynh hướng mềm dẻo, bao dung, chấp nhận và đề cao các tôn giáo ấy như những cách nhìn khác với Kitô giáo về Thiên Chúa – vốn có thể được nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau theo quan niệm thực tại đa diện – và cũng có khả năng cứu độ con người. Và cứ theo lẽ ấy, đương nhiên các vị giáo chủ của các tôn giáo ấy cũng là những đấng cứu độ thế giới"[5].

Tuyên ngôn Dominus Jesus mô tả những khuynh hướng rộng rãi đó như sau: «Trong suy tư thần học hiện đại thường xuất hiện một lối suy tư về Chúa Giêsu thành Nazareth cho rằng Người là một nhân vật lịch sử đặc thù và hữu hạn, đã mạc khải Thiên Chúa không phải bằng một phương cách độc nhất, nhưng bằng một phương cách bổ túc cho những nhân vật có tính cách mạc khải và cứu độ khác. Mầu Nhiệm Vô Hạn, Sự Tuyệt Đối, và Cơ Bản của Thiên Chúa như vậy tự phơi bày cho nhân lọai bằng nhiều cách và qua nhiều khuôn mặt lịch sử: Chúa Giêsu thành Nazareth chỉ là một trong những khuôn mặt này. Cách chắc chắn hơn, đối với nhiều người, Chúa Giêsu là một trong nhiều khuôn mặt mà Ngôi Lời đã mặc lấy trong giòng thời gian để liên lạc với nhân loại trong phương thức cứu độ.» (Dominus Jesus số 9 §1). Tuyên ngôn nói thêm: «Hơn nữa, để biện minh cho tính phổ quát của ơn cứu độ Kitô giáo cũng như sự đa dạng tôn giáo, có người đã đề nghị rằng có một công trình khác của Ngôi Lời hằng hữu vừa vững vàng và ngoài Hội Thánh và không liên hệ gì đến Hội Thánh, cộng với công trình của Ngôi Lời Nhập Thể. Công trình thứ nhất này có giá trị phổ quát hơn công trình thứ hai, là công trình chỉ giới hạn trong các Kitô hữu, mặc dù Thiên Chúa hiện diện cách hoàn bị hơn trong công trình thứ hai này» (Dominus Jesus, số 9, §2).

+ Quan niệm thần học vừa nói trên có khuynh hướng coi Đức Giêsu chỉ là một trong nhiều khuôn mặt vĩ đại đem lại nguồn mạc khải và cứu độ của Thiên Chúa. Điều này chắc chắn làm giảm thiểu hoặc xóa bỏ tính duy nhất trong vai trò cứu độ của Đức Giêsu. Để điều chỉnh lại quan niệm quá rộng rãi này, tuyên ngôn Dominus Jesus xác quyết rằng: "Những thuyết này hoàn toàn trái ngược với đức tin Kitô giáo. Giáo lý đức tin mà chúng ta phải tin cách chắc chắn rằng Chúa Giêsu thành Nazareth, con của Mẹ Maria, và chỉ mình Người, là Con và là Ngôi Lời của Chúa Cha. Ngôi Lời, là Đấng “từ nguyên thuỷ đã ở cùng Thiên Chúa” (Ga 1:2) cùng là một Đấng “đã làm người” (Ga 1:14). Trong Chúa Giêsu, “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống: (Mt 16:16), “Trong Đức Kitô, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Col 2:9). Người là “Con Một Đức Chúa Cha, là Đấng ở trong cung lòng Đức Chúa Cha” (Ga 1:18), “Con yêu dấu của Ngài, trong Người chúng ta có ơn cứu độ... Trong Người sự sung mãn của Thiên Chúa vui ngự, và nhờ Người, Thiên Chúa vui lòng hoà giải mọi sự với Ngài, dưới đất và trên trời, cho chúng ta được bình an nhờ máu Người đổ ra trên Thánh Giá” (Col 1:13-14; 19-20).  (Dominus Jesus số 10, §1)

– «Tương tự, chúng ta phải tin chắc vào học thuyết đức tin về tính duy nhất của công trình cứu độ của Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi, mà mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể là nguồn gốc và trung tâm của nó.» (Dominus Jesus, số 11, §1).

– Thánh Kinh nói rõ: «Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, là con người, Đức Giêsu Kitô Đấng tự hiến và làm giá chuộc mọi người (1Tm 2, 4-6)» (Dominus Jesus, số 13, §3). «Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta nhờ vào đó mà được cứu độ (Cv 4,12)» (Dominus Jesus, số 13, §2).

– «Phải tin vững vàng như một chân lý đức tin Công giáo, là ý muốn cứu độ phổ quát của một Thiên Chúa Ba Ngôi được ban tặng và hoàn thành dứt khoát một lần trong mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh của Con Thiên Chúa» (Dominus Jesus, số 14, §1).

3.2. Chúa Kitô Đấng Đang Sống

Như thế, ĐTC Phanxicô một lần nữa nhấn mạnh cho chúng ta: "Đấng đổ đầy ân sủng của Người trên chúng ta, Đấng giải thoát chúng ta, Đấng biến đổi chúng ta, Đấng chữa lành và an ủi chúng ta là Đấng còn đang sống. Người là Đức Kitô Phục Sinh, tràn đầy sức sống siêu nhiên, được phục sức trong ánh sáng vô tận. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô đã khẳng định: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì đức tin của anh em ra vô ích” (1 Cor 15: 17). (124)

- Nếu như Ngươi đang sống thì Người hiện diện trong cuộc đời của con ở mọi nơi mọi lúc. Như vậy sẽ không bao giờ còn cô đơn và bị bỏ rơi nữa. Ngay cả khi mọi người bỏ đi, Người sẽ ở đó, như Người đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Người lấp đầy mọi sự bằng sự hiện diện vô hình của Người, và các con đi bất cứ nơi nào, Người sẽ chờ đợi các con ở đó. Bởi vì Người không những đã đến mà còn đang đến và sẽ tiếp tục đến mỗi ngày để mời các con tiến bước đến một chân trời luôn luôn mới. (125)

- Hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu với niềm hạnh phúc và tràn ngập niềm vui. Hãy vui mừng với Người Bạn đã chiến thắng. Họ đã giết Đấng Thánh, Đấng công chính, Đấng vô tội, nhưng Người đã chiến thắng. Sự dữ không có lời cuối. Ngay cả trong cuộc đời các con, sự dữ sẽ không có lời cuối, bởi vì các con có một Người Bạn yêu thương các con và muốn chiến thắng trong các con. Cứu Chúa của các con đang sống! (126)

- Nếu như Người đang sống,  thì đó  chính là một đảm bảo rằng sự tốt lành có thể đi theo cuộc đời chúng ta, và những nỗ lực của chúng ta không ra vô ích.

+ ĐTC kết thúc chân lý thứ ba, Chúa Kitô Đang Sống bằng việc chỉ cho người trẻ và cho chúng ta, nếu như chúng ta để Chúa Kitô gặp gỡ chúng ta và chúng ta tìm gặp Đức Kitô mỗi ngày để Ngài yêu thương và cứu độ, đi vào tình bằng hữu với Chúa bắt đầu sống cụ thể Lời Ngài thì đây quả là một kinh nghiệm tuyệt vời nền tảng cho đời sống Kitô Hữu và có thể thông truyền lại cho người khác: Bởi vì “là một Kitô hữu, không phải là kết quả của một một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao cả, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, là điều mang đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định”[6]. (129)

Để kết - Thần Khí ban sự sống

Trong bốn số 130 -133, ĐTC nói về Chúa Thánh Thần như là nguyên lý hiệp nhất của Ba Ngôi. Khi nói về ba chân lý: Thiên Chúa yêu con, Đức Kitô là Đấng Cứu Độ con, Đức Kitô đang Sống đều có Chúa Cha và Chúa Con, mà ở đâu có Chúa Cha, Chúa Con thì cũng có Chúa Thánh Thần.

Vì vậy ĐTC nhắc nhở chúng ta hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng chuẩn bị và mở rộng tâm hồn để đón nhận sứ điệp này, chính Ngài là Đấng giữ cho hy vọng cứu độ này được sống, chính Ngài là Đấng sẽ giúp các con lớn lên trong niềm vui này nếu các con để cho Ngài hoạt động. Chúa Thánh Thần đổ đầy quả tim của Đức Kitô Phục Sinh và từ đó, như một suối nguồn, đổ vào đời sống các con. Và khi các con nhận được Chúa Thánh Thần, Ngài làm cho các con càng ngày càng đi sâu vào con tim của Đức Kitô, để các con có thể lớn lên trong tình yêu, ánh sáng và quyền năng của Ngài. (130)

 

 

NỘI DUNG

 

Dẫn nhập. 3

1. Chân lý thứ nhất: Thiên Chúa là tình yêu. 3

1.1. Tình yêu của Thiên Chúa đa dạng và phong phú  4

1.2. Tình yêu của Thiên Chúa quãng đại 6

1.3. Tình yêu không áp đặt hay đè bẹp. 6

1.4. Tình yêu của Thiên Chúa chân thực và cụ thể. 7

2. Chân lý thứ hai: Đức Kitô cứu độ con. 7

3. Chân lý thứ ba: Chúa Kitô đang sống. 10

3.1. Tuyên ngôn Dominus Jesus. 10

3.2. Chúa Kitô Đấng Đang Sống. 15

Để kết - Thần Khí ban sự sống. 16

 

 



[1] ĐGH. PHANXICÔ, Huấn Từ Khai Mạc Ngày Giới Trẻ Thế Giới XXXIV tại Panama (24 tháng 1, 2019)L’Osservatore Romano, 26 tháng 1, 2019, 12.

[2] ĐGH. PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium (24 tháng 11, 2013), 1: AAS 105 (2013), 1019. Xem Bản tiếng Việt tại: http://www.giaoly.org/vn/tong-huan-niem-vui-cua-tin-mung-i/.

[4] Cardinal Pierre Eyt, Introduction de la Déclaration Dominus Jesus, p. XI.

[5] Cf. Nguyễn Chính Kết, Phải hiểu và hành xử thế nào khi tuyên xưng "Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất?

[6]ĐGH. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est (25 tháng 12, 2005), 1: AAS 98 (2006), 217.


Đọc tiếp »