Thứ Ba, 1 tháng 4, 2025

Hoán cải Tình yêu Hôn Nhân - Học Hỏi Tông Huấn của Đức Thánh Cha Amoris Laetitia

 

 

TÔNG HUẤN AMORIS LAETITIA

CHƯƠNG IV: TÌNH YÊU TRONG HÔN NHÂN

 CHIA SẺ VỚI CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN BÀ RỊA

THƯỜNG HUẤN THÁNG 3/2017

L.m. Gioan B. Trương Đình Hà

 

Dẫn nhập

Chương 4 của Tông Huấn Amoris Laetitia, Đức Thánh Cha Phanxicô nói đến tình yêu trong hôn nhân, được soi sáng bởi Bài Ca Đức Ái của Thánh Phaolô trong 1 Cô-rin-tô 13,4-7. Có thể nói dây là một chương tổng hợp với suy tư hết sức súc tích nhưng rõ ràng với ngôn từ bình dân, về tình yêu con người theo các thuật ngữ cụ thể đặt nền tảng trên Thánh Kinh. Đây sẽ là những chỉ dẫn quý giá cho các gia đình, nhưng chúng ta cũng rút ra nhiều bài học để sống. Trong giới hạn của buổi tĩnh tâm hôm nay, xin được khép góc ở chương IV. Khởi đi từ “Bài ca đức mến” của thánh Phaolô.

“Bài ca đức mến” của Thánh Phaolô

“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,

Không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,

Không làm điều bất chính, không tìm tư lợi,

Không nóng giận, không nuôi hận thù,

Không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.

Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.

(1 Cr 13,4-7).

1.  Tình yêu thương thì “nhẫn nhục” (μακροθυμει) (macrothymei)

Trích và tìm hiểu Số 91. Từ μακροθυμει (macrothymei) trong tiếng Hy Lạp: kiên nhẫn, nhẫn nhục, trì chí, nhịn nhục : “Nhịn nhục” được định nghĩa là “kiên nhẫn chịu đựng sự sai trái hoặc khiêu khích, đồng thời vẫn hy vọng cải thiện mối quan hệ giữa đôi bên”. Chữ này không đơn giản chỉ nói tới việc “chịu đựng mọi sự”. Trong Cựu Ước nó còn mang ý nghĩa  “chậm nổi giận”,  Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và đầy nhân nghĩa, tín thành”. (Xh 34,6) ; "Ðức Chúa chậm giận và giàu ân nghĩa, chịu đựng lỗi lầm và tội ác (Ds 14,18). Cả trong tiếng Hippri lẫn Hy lạp cụm từ “nhẫn nhục” đều có nghĩa là: kiên nhẫn, kiềm chế và chậm giận. (xem. Ds 14,18; Gl 2,13; Gn 4,2; Tv 86,15; 103,8; 145,8; Nkm 9,17; Cn 14,29; 15,18; 16,32)

Bản văn của Thánh Phaolô khi dùng chữ này cần được đọc dưới sự soi sáng của Sách Khôn Ngoan, là Sách vốn tán dương sự kiềm chế (nén giận) của Thiên Chúa, cũng như mở ra không gian cho người tội lỗi có cơ hội ăn năn, mà vẫn nhấn mạnh tới uy quyền của Người. Sự “kiên nhẫn” của Thiên Chúa, được chứng tỏ qua lòng thương xót của Người đối với những người tội lỗi, là dấu chỉ uy quyền thực sự của Người. (xem Kn11,23; 12,2, 15-18) “Nhưng Người thương xót mọi người, vì Người toàn năng phép tắc”.

15“ Nhưng Người công minh,

Người điều khiển mọi sự cách công minh,

Người nghĩ rằng lên án kẻ không đáng phạt

là trái với quyền năng của Người.

16 Vì sức mạnh của Người là đầu mối công minh,

Người có quyền trên mọi sự,

khiến với mọi sự Người xử khoan dung.

17 Người tỏ bày sức mạnh,

khi có ai không tin Người quyền năng trọn hảo,

còn biết mà dám làm càn, Người trị tội to gan.

18 Nhưng tự chủ trên sức mạnh, Người lấy từ nhân xét xử,

Người quản cai chúng tôi với lượng cả bao dung,

vì sử dụng quyền năng là việc của Người, khi Người muốn.”

Số 92.

Nhẫn nhục hay kiên nhẫn không có nghĩa để mình luôn bị đối xử tệ, khoan thứ những vụ gây hấn thể lý hoặc để người khác lợi dụng ta. Hay cho phép người khác đối xử với ta như một đồ vật. ĐTC cho thấy vấn đề mất kiên nhẫn là khi nào ta tưởng mối liên hệ ấy hay người ấy hẳn phải hoàn hảo, hay khi ta đặt ta vào trung tâm và mong chờ mọi sự sẽ xoay chiều thuận lợi cho ta. Nhưng rồi mọi sự không theo ý muốn của mình và vì vậy mà mọi sự làm mình mất kiên nhẫn, mọi sự làm ta phản ứng một cách hung hăng. Nếu không vun đắp tính kiên nhẫn, ta sẽ luôn tìm kế bào chữa cho việc phản ứng đầy giận dữ. Kết cục ta sẽ mất hết khả năng sống với nhau, phản xã hội, không kiểm soát được các bốc đồng của ta, và gia đình ta sẽ trở thành bãi chiến trường.

Thư Êphêsô: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác” (Ep 4:31).

ĐTC dạy rằng: “Đức nhẫn nhục hay Kiên nhẫn được lớn lên, khi ta thừa nhận rằng người khác cũng có quyền sống trong thế giới này, cùng với tôi, trong con người hiện thực của họ... Lòng yêu thương luôn có khía cạnh cảm thương sâu xa dẫn ta tới chỗ chấp nhận người khác như là một phần thế giới này, ngay cả lúc họ hành động khác với ý thích của tôi” .

Áp dụng trong đời sống gia đình. Kiên nhẫn đón nhận người khác (người phối ngẫu) với những khác biệt của họ.

2. Nhân hậu χρηστευεται (chrestéuetai)

Lòng yêu thương phục vụ người khác

Số 93: “nhân hậu” χρηστευεται (chrestéuetai).  Bởi chữ gốc chrestós: người tốt lành, người tỏ lòng tốt bằng hành động. Từ này liên kết với từ trước nó makrotimei và được dùng như một bổ ngữ. Thánh Phaolô muốn minh xác rằng “kiên nhẫn” không phải là một thái độ hoàn toàn thụ động, nhưng là một thái độ được kèm theo bằng hành động, bằng tương tác đầy năng động và sáng tạo với người khác. Chữ này muốn xác định rằng lòng yêu thương có lợi ích và có tính giúp đỡ người khác. Vì lý do này, nó được dịch là “hiền hậu”; lòng yêu thương luôn sẵn sàng giúp đỡ.

Vì vậy tình yêu đích thực trong đời sống hôn nhân phải là tình yêu biết giúp đỡ người khác.

Số 94: ĐTC phân tích thêm cho ta thấy, trong bản văn thánh Phaolô nhấn mạnh tình yêu không chỉ là một cảm xúc thuần túy, mà nên hiểu nó theo nghĩa động từ “yêu” của tiếng Hípri; tức là “làm điều tốt”. Như Thánh Inhaxiô thành Loyola từng nói, “Lòng yêu thương được biểu lộ bằng hành động hơn là bằng lời nói”[1] (106). Nó biểu lộ hạnh phúc cho đi, tính cao thượng và vẻ cao cả của việc chúng ta tự cho đi một cách hào phóng không đòi được đền trả, chỉ vì niềm hân hoan được cho đi và phục vụ.

Trong ý nghĩa này chúng ta gặp thấy nơi tình yêu của Chúa Kitô yêu nhân loại. Ngài cho đi chính mạng sống của mình, Ngài đến phục vụ cho con người và phục vụ cho đến chết. Ngài chết cho người mình yêu. Tình yêu đích thực trong hôn nhân cũng phải là tình yêu phản ánh tình yêu của Chúa Giêsu, biết giúp đỡ người khác, biết phục vụ chứ không chỉ bắt người phối ngẫu phục vụ mình. Và phải tiến tời mức cảm thấy hạnh phúc và niềm vui khi được cho đi.

3. Tình yêu không ghen tương

Trích và khai triển số 95 trong Tông Huấn. “Tình yêu thì không ghen tương”. Chữ “ghen tương” do động từ zelos (ghen tương hay ghen tị) diễn tả như là trái ngược với lòng yêu thương. Điều này có nghĩa: lòng yêu thương không có chỗ dành cho việc không vui trước vận may của người khác (xem Cv 7:9; 17:5). Ghen tị là buồn bực trước một điều thiện hảo của người khác, nó chứng tỏ ta không quan tâm đến hạnh phúc của người khác mà chỉ tập chú vào lợi ích của ta. Trong khi yêu thương đưa chúng ta ra khỏi chính mình, thì ghen tị lại qui chúng ta trở về với cái tôi của mình”.

Ta rút ra mấy điểm về tình yêu đích thực từ Tông Huấn:

- Lòng yêu thương đích thực biết đánh giá cao các thành tựu của người khác.

- Nó không coi họ như môt đe dọa.

- Tình yêu đích thực giải thoát ta khỏi vị chua chát của lòng ghen tị.

- Tình yêu đích thực giúp ta nhận ra rằng mọi người đều có những ơn phúc khác nhau và mỗi người có một lối đi riêng ở trong đời. Nên trong khi ta cố gắng khám phá ra con đường tiến tới hạnh phúc của riêng mình, thì ta cũng để người khác tìm ra con đường riêng của họ. Nhu thế tình yêu đích thật đưa đến tự do, tôn trọng tự do của người khác.

 Ghen tị là cảm giác tức tối với người khác vì những gì họ có như tài sản, sự thịnh vượng, lợi thế v.v. Theo ý nghĩa của Kinh Thánh, từ thường được dịch là “ghen tị” không chỉ nói đến cảm giác muốn được bằng người khác mà còn muốn chiếm đoạt những gì họ có. Câu chuyện của Cain và Abel, Cain ghen tức với Abel đến nỗi giết chêt em. (St 4:4-8). Mười người anh của Giuse ghen tị khi thấy chàng được cha thương yêu hơn. Họ càng ghét Giuse hơn khi nghe chàng kể về những giấc mơ mang ý nghĩa tiên tri của mình họ muốn giết Giuse và cuối cùng bán luôn Giuse (St 37:4-11, 23-28, 31-33). Vua Sa-lô-môn đã thấy lòng ghen tị gây tai hại đến mức nào. Một phụ nữ có đứa con mới sinh bị chết. Bà cố lừa người phụ nữ ở chung nhà rằng con của người ấy là đứa bé đã chết. Khi vua Sa-lô-môn xét xử vụ kiện này, kẻ nói dối thậm chí tán thành việc giết đứa bé còn sống. Tuy nhiên, vua đã ra lệnh giao lại đứa bé cho người mẹ thật. (1 Vua 3:16-27). Trong thời đại chúng ta, có ông Kim Jong Un hiện là chủ tịch ở Bắc Triều Tiên, từ lúc ông lên nắm quyền lãnh đạo cao nhất đã xử tử hàng trăm người thuộc quyền ông[2]. Ngay cả những người ruột thịt trong gia đình cũng bị ông giết chết chỉ vì lòng ghen tị sợ họ sẽ tiếm quyền. Vừa rồi vào ngày 13/2/2017 báo chí đưa tin[3] vụ ám sát một người tên là Kim Chol mang hộ chiếu ngoại giao Triều tiên tại phi trường quốc tế Kuala Lumpur của Malaysia, mà ông Thủ Tướng Malaysia cũng như Hàn Quôc và Nhật Bản đều cho người bị sát hại chính là Kim Jong Nam[4], anh cùng cha khác mẹ với ông Kim Jong Un. Chỉ vì ông này có tư tưởng đổi mới và dám chỉ trích chế độ gia đình trị tại Bình Nhưỡng. Ông đã từng bị người em ra lệnh ám sát vào năm 2012 tại Triều tiên nhưng thoát chết. Như vậy ta thấy lòng ghen tị như là chất độc nếu không kềm chế sẽ biến con người thành ác độc, tàn nhẫn.

Số 96. Tóm lại, yêu thương có nghĩa là chu toàn hai giới răn cuối cùng của Lề Luật Thiên Chúa: “Ngươi không được ham muốn nhà người ta; ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta” (Xh 20,17). Tình yêu khơi lên một niềm quí trọng chân thành đối với mỗi người và nhìn nhận quyền được hạnh phúc của người khác. Tôi yêu con người này, và tôi nhìn người ấy với ánh nhìn của Thiên Chúa là Cha, Đấng trao ban cho chúng ta mọi sự “để chúng ta được hưởng dùng” (1 Tm 6,17), và như vậy, tôi chấp nhận trong lòng rằng người ấy có thể vui hưởng một khoảnh khắc hạnh phúc.

4. Tình yêu thương không vênh vang περπερευεται, không tự đắc (φυσιουται):

Trích và khai triển số 97 trong Tông Huấn. Diễn ngữ (περπερευεται), (perpereúetai) diễn tả sự vênh vang, Nghĩa là lo lắng về sự trỗi vượt của mình nhằm tạo ấn tượng trên những ngươi khác. Những người biết yêu thương không những tự chế, không nói quá nhiều về chính họ, mà còn tập chú vào người khác; họ không cần là tâm điểm để được chú ý. Chữ sau đó, (φυσιουται) (physioútai): kiêu căng, cũng tương tự như thế, cho thấy lòng yêu thương không ngạo mạn. Nó có nghĩa ta không tự “lên mặt” trước mặt người khác. Ta tự xem mình cao trọng hơn sự thực mình là, vì tưởng rằng mình “đạo đức” hơn hay “khôn ngoan” hơn. Thánh Phaolô còn dùng động từ này trong những trường hợp khác nữa, như khi ngài nói “sự hiểu biết sinh lòng kiêu ngạo, còn tình yêu thì xây dựng” (1 Cr 8,1). Một số người còn nghĩ rằng họ cao trọng vì họ hiểu biết hơn những người khác, và ra sức đòi hỏi và khống chế những người khác, trong khi điều thực sự làm ta cao trọng chính là một tình yêu biết cảm thông, quan tâm, và nâng đỡ những người yếu đuối. Trường hợp chồng “chúa vợ tôi” có những người chồng bắt vợ phục vụ mình như tôi tớ.

Trong số 98, ĐTC nói đến người Kitô hữu sống thái độ này trong cách họ cư xử với những người thân trong gia đình ít hiểu biết hơn mình về đức tin, họ là những người yếu đuối hoặc thiếu một xác tín chắc chắn. Đàng khác, lòng yêu thương có đặc điểm khiêm nhường; nếu ta muốn hiểu biết, tha thứ và phục vụ người khác với tấm lòng, thì ta phải chữa trị tính kiêu ngạo của ta để lòng khiêm nhường lớn mạnh. Đức Giêsu lưu ý các môn đệ rằng trong thế giới của quyền lực mỗi người đều tìm cách để thống trị kẻ khác, và bởi thế Người nói “giữa anh em thì không như thế” (Mt 20,26). Lối nghĩ về tình yêu Kitô giáo không phải là lối nghĩ của người đứng bên trên người khác và cần để họ biết đến quyền lực của mình, nhưng là lối nghĩ “ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20,27). Trong đời sống gia đình, luận lý học thống trị hay cạnh tranh ai là người thông minh nhất hay có quyền nhất sẽ tiêu diệt lòng yêu thương. Lời khuyên răn của Thánh Phêrô cũng được áp dụng vào gia đình: “anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5:5).

Có một người chồng tân tòng kể cho tôi nghe. Anh ta làm phép chuẩn khác đạo với vợ.  Khi về chung sống với nhau người vợ không hề nói gì với anh về đạo chị cứ để anh tự do theo tôn giáo của anh. Nhưng có một điều anh nhận thấy là tối nào cứ đúng 8g00 PM chị tắt tivi và thắp đèn bàn thờ đọc kinh, anh không biết chị đọc kinh gì với Chúa, nhưng thấy chị luôn kiên trì giữ giờ kinh như thế không bao giờ bỏ. Từ đó anh cảm phục chị, việc gia đình chị lo chu toàn hết và có đời sống đạo đức thất tốt anh thật sự bị lôi cuốn bởi chị và anh quyết định học đạo và rửa tội, bây giò tuy đạo mới nhưng anh cũng rất tích cực làm việc tông đồ, làm ông trùm trong họ đạo. Tôi nghĩ rằng chính thái độ khiêm tốn của người vợ, và âm thầm kiên trì cầu nguyện của chị đã đưa người chồng trở về với Chúa.

5. Lòng yêu thương không khiếm nhã (aschemonéi)

Trích và khai triển số 99. Diễn ngữ  aschemonei (ασχημονει): Từ ngữ này muốn nói rằng tình yêu thì không hành động thô lỗ, khiếm nhã, không cư xử gay gắt. Các cách thức, lời nói và cử chỉ của nó đem lại sự dễ chịu và không chua chát hay cứng cỏi. Tình yêu đích thực thì không muốn làm cho người khác đau khổ. Hòa nhã “là một trường học dạy sự mẫn cảm và tinh thần vô vị lợi”, nó đòi người ta “phải vun xới tâm tư và tình cảm của mình, học biết lắng nghe, ăn nói, và có những lúc cũng biết thinh lặng”[5]. Hòa nhã không phải là một lối sống mà một Kitô hữu có thể chọn lựa hay từ chối: nó là thành phần trong những đòi hỏi thiết yếu của tình yêu, bởi thế “mỗi người đều phải để tâm sống thuận thảo với những người xung quanh mình”.[6] Mỗi ngày, “việc bước vào đời sống của một người khác, ngay cả khi người ấy vốn đã là phần đời của mình, thì vẫn đòi hỏi một thái độ tế nhị không xâm phạm, điều này có sức làm mới lại niềm tin tưởng và sự kính trọng. Tình yêu càng thân mật và sâu xa, càng đòi hỏi tôn trọng tự do và khả năng chờ đợi người ấy mở cửa lòng ra”.[7] Trong đời sống hôn nhân người ta cũng dễ quên điều này, lúc đầu thì anh với em, sau một thời gian bà với tui, sau nữa là tao với mày…

Để gặp gỡ người khác cách chân thực và cởi mở, ĐTC gợi ý cần có “một cái nhìn nhân hậu” là điều chủ yếu (số 100). Nghĩa là tránh thái độ tiêu cực lúc nào cũng sẵn sàng vạch trần các thiếu sót của người khác trong khi làm ngơ các thiếu sót của mình.

- Cái nhìn nhân hậu giúp ta nhìn xa hơn các giới hạn của chúng ta, biết kiên nhẫn và hợp tác với người khác, bất chấp các dị biệt của ta.

- Những ai yêu thương đều có khả năng nói những lời phấn khởi, gây sức mạnh, an ủi, và khuyến khích, nói lời tích cực. Đó là các lời chính Chúa Giêsu từng nói: “Này con, cứ yên tâm!” (Mt 9:2); “này bà, lòng tin của bà mạnh thật!” (Mt 15:28); “Hãy trỗi dậy!” (Mc 5:41); “Hãy đi bình an!” (Lc 7:50; “Đừng sơ!” (Mt 14:27). Trong đời sống gia đình, ta cần học theo gương Chúa Giêsu để có những lời nói tích cực khích lễ nâng đỡ nhau.Thay vì nói hành nói xấu người này người kia.

6. Lòng yêu thương thì quảng đại (không tìm tư lợi)

Thường chúng ta hay lý luận rằng để yêu một người khác, ta phải yêu chính mình (số 101). Tuy nhiên, bài ca yêu thương của Thánh Phaolô quả quyết rằng lòng yêu thương “không tìm tư lợi” cũng không “tìm điều của riêng mình”. Cùng một ý tưởng này trong thư gửi giáo đoàn Philipphê: “Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2:4).  Như vậy sự quảng đại hiến thân cho người khác còn cao quí hơn cho tình yêu đối với chính bản thân mình. ĐTC nói: Ưu tiên yêu thương mình chỉ có thể được hiểu như một điều kiện tâm lí, xét vì ai không có khả năng yêu thương chính mình thì sẽ khó yêu thương người khác: “Xấu với bản thân thì tốt với ai được?

- ĐTC cũng trích dẫn thánh Tôma Aquinô đã giải thích rằng “đức ái hệ tại ở ước muốn yêu thương hơn là ước muốn được yêu thương”;[8] điển hình ở “những người mẹ, là những người yêu thương nhiều nhất, tìm cách để yêu hơn là để được yêu”.[9] Bởi thế, tình yêu có thể vượt lên trên sự công bằng và tuôn tràn một cách vô cầu mà “không hề hi vọng được đền đáp” (Lc 6,35), và đạt tới tình yêu vĩ đại nhất, đó là “việc hiến mạng sống mình” cho người khác (cf. Ga 15,13). Liệu một lòng quảng đại như thế, lòng quảng đại làm ta có thể dâng hiến một cách vô cầu, và dâng hiến cho đến cùng, còn có thể tồn tại không? Chắc chắn là có, bởi vì đó là điều Tin mừng đòi hỏi: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8).

7. Tình yêu không nóng giận không nuôi hận thù - (παροξυνεται) paroxýnetai (bị kích động)

Hôm nay người ta hay dùng từ “manh động”

Số 103. Nếu diễn ngữ thứ nhất trong bài ca của Thánh Phaolô nói tới việc phải kiên nhẫn, không phản ứng thô  lỗ ngay tức khắc đối với các yếu đuối và lỗi lầm của người khác, thì chữ kế tiếp ngài sử dụng là paroxýnetai (παροξυνεται), liên hệ nhiều hơn tới việc bất bình nội tâm do một điều từ bên ngoài gây ra. Nó chỉ phản ứng dữ dội từ bên trong, một sự nóng giận ẩn khuất khiến ta bực mình liên quan tới người khác, như thể họ gây rối hay đe dọa ta và do đó cần được xa tránh. Nuôi dưỡng thứ thù nghịch nội tâm như thế không ích lợi gì cho bất cứ ai. Nó chỉ gây mích lòng và ra xa lạ. Bất bình chỉ lành mạnh khi nó khiến ta phản ứng chống một bất công trầm trọng. “Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con-cái mình giận-dữ, hãy dùng sự sửa-phạt khuyên-bảo của Chúa mà nuôi-nấng chúng nó”. (Ê-phê-sô 6:4)

Số 104. - Tin Mừng dạy ta nhìn ra cái xà trong chính mắt ta (xem Mt 7:5). - “Đừng để sự ác thắng được mình” (Rm 12:21).- “Ta đừng mệt mỏi trong việc làm điều thiện” (Gl 6:9). Đột nhiên cảm thấy ước muốn trả thù là một chuyện mà chiều theo uớc muốn ấy, để nó bén rễ trong tâm hồn ta, là một chuyện khác:- “Hãy giận dữ nhưng đừng phạm tội; đừng để mặt trời lặn trên sự giận dữ của anh em” (Ep 4:26). - Lời khuyên của ĐTC là đừng để một ngày qua đi mà không làm hòa trong gia đình. “và để làm hòa chỉ cần một việc nhỏ mọn thôi, cũng đủ để hòa khí gia đình được tái lập. Chỉ một mơn trớn nhỏ, không cần phải nói năng chi. Nhưng đừng để một ngày qua đi mà không làm hòa trong gia đình bạn[10] - Làm điều tích cực: Phản ứng đầu tiên của ta khi ta bị làm phiền nên là một phản ứng chúc lành tận đáy lòng, xin Chúa chúc lành, giải thoát và chữa lành người kia. “Ngược lại, hãy chúc lành, vì anh em đã được kêu gọi làm việc này, ngõ hầu anh em nhận được phúc lành” (1Pr 3:9). Nếu phải đấu tranh một sự ác, thì hãy đấu tranh; - nhưng ta phải luôn nói “không” với bạo lực trong gia đình.

 8. Lòng yêu thương thì tha thứ - Không chấp nhất sự dữ (ou logízetai to kakón)

Số 105. Một khi đã bén rễ trong trái tim ta, ý xấu sẽ dẫn ta tới chỗ hận thù sâu xa. Câu ou logízetai to kakón có nghĩa: “không chấp nhất sự dữ”; “ghim nó trong lòng”. Đối nghịch với hận thù là tha thứ, đó là thái độ tích cực luôn tìm cách hiểu các yếu đuối của người khác để miễn thứ. Như Chúa Giêsu đã nói, “Lạy Cha, xin Cha tha thứ cho họ; vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Trong đời sống gia đình người ta cứ đi tìm hết lỗi này tới lỗi nọ, tưởng tượng ra đủ thứ ác lớn hơn, giả định đủ thứ ý xấu, và do đó, hận thù cứ thế gia tăng và sâu xa hơn. Cứ thế, mọi lỗi lầm hay thiếu sót từ phía người phối ngẫu đều có thể gây hại tới mối dây yêu thương và bền vững của gia đình. Sâu xa hơn nữa nếu không giải hòa được nó sẽ âm ỉ và có nguy cơ den đến đổ vở. Tránh coi mọi vấn đề đều nghiêm trọng như nhau; bởi vì như thế, ta sẽ dễ cay nghiệt một cách không thích đáng đối với các thiếu sót của người kia. Ước muốn chính đáng thấy các quyền của mình được tôn trọng sẽ trở thành nỗi khao khát trả thù hơn là bảo vệ phẩm giá ta cách hợp lý.

Số 106. Thực hành:

- Khi ta đã bị xúc phạm hay làm cho thất vọng, sự tha thứ đáng mong ước, nhưng không phải là chuyện dễ dàng. - Cần có tinh thần hy sinh lớn lao mới duy trì được sự hiệp thông trong gia đình . - Đòi hỏi mỗi người và mọi người phải sẵn sàng và quảng đại mở lòng mình ra để hiểu, để chịu đựng, để tha thứ, để hòa giải. Không hề có gia đình nào lại không biết đến ích kỷ, bất hòa, căng thẳng và tranh chấp, tấn công bạo động và đôi khi gây tử thương cho cuộc hiệp thông của họ: do đó, mà xuất hiện nhiều hình thức chia rẽ đa dạng trong đời sống gia đình” (113).

Số 107. Ngày nay, ta nhìn nhận rằng để có thể tha thứ cho người khác, ta cần tới kinh nghiệm giải thoát biết tự hiểu và tha thứ cho chính mình… Ta cần học cách cầu nguyện cho dĩ vãng của mình, để biết chấp nhận chính ta, học cách sống với các hạn chế của ta, và thậm chí tha thứ cho chính ta, để có được cùng một thái độ như thế đối với người khác.

Số 108. -Và trên hết là chính ta có kinh nghiệm được Thiên Chúa tha thứ, được ơn thánh của Người công chính hóa chứ không phải do công phúc của riêng ta. Ta cảm nghiệm được một lòng yêu thương đi trước bất cứ cố gắng nào của ta, một lòng yêu thương không ngừng mở cửa, cổ vũ và khích lệ. Một tình thương tha thứ vô điều kiện và không thể mua bán được của Thiên Chúa đối với ta thì ta mới có thể tha thứ cho người xúc phạm đến mình.

9. Lòng yêu thương vui với người khác

Số 109. Diễn ngữ chairei epi te adikia cho thấy một cái gì đó tiêu cực ẩn sâu trong lòng người ta. Đó là thái độ độc ác của người vui mừng khi thấy người khác phải chịu sự bất công “không mừng trước sự bất công”. Diễn ngữ này được bổ nghĩa bởi cụm từ theo sau: synchairei te aletheia diễn tả điều tích cực, có nghĩa là “vui khi thấy điều chân thật”. Nói cách khác, chúng ta vui mừng về điều tốt lành của người khác, khi phẩm giá của họ được nhìn nhận, khi các khả năng và các việc tốt của họ được trân trọng. Trong gia đình thường gặp cả với vợ hoặc chồng mình, khi mà hết thương rồi đến độ ngầm vui mừng trong lòng trước những thất bại của người ấy.

Số 110- Thực hành: - Hãy có Niềm vui yêu thương, niềm vui mừng khi thấy điều tốt lành cho người khác thì chính họ cũng cảm thấy vui, và bằng cách ấy họ tôn vinh Thiên Chúa, vì “ai vui vẻ dâng hiến thì được Thiên Chúa yêu thương” (2 Cr 9,7). - Chúa chúng ta đặc biệt trân trọng những ai tìm thấy niềm vui trong hạnh phúc của người khác. Nếu chúng ta không nuôi dưỡng khả năng của chúng ta biết vui hưởng trước những điều tốt lành của người khác mà chỉ chủ yếu tập trung vào các nhu cầu của mình, thì chúng ta đang tự đày đọa mình sống thiếu niềm vui, như Đức Giêsu nói: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Gia đình phải luôn là nơi mà bất cứ ai ở trong đó làm được điều gì tốt đẹp trong cuộc sống, đều biết rằng ở đó mọi người cũng sẽ mừng về điều ấy với mình. 

10. Lòng yêu thương tha thứ tất cả παντα  στεγει (panta stegei)

Số 111. Bài ca đức mến hoàn tất danh mục với bốn diễn ngữ nói lên tính toàn thể: “tất cả”. [Tình yêu] tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hi vọng tất cả, chịu đựng tất cả.

Số 112. Trước hết, [tình yêu thì] “tha thứ tất cả” (panta stegei). Điều này thì khác với việc “không chấp nhất sự dữ”, bởi vì từ này có liên quan tới việc sử dụng cái lưỡi; nó có thể có nghĩa là “giữ thinh lặng” về một điều tiêu cực có thể có nơi người khác. Nó nghĩa hạn chế sự xét đoán, kiềm giữ khuynh hướng muốn làm bật ra một lời lên án nghiệt ngã và bất nhẫn: “Đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị xét đoán” (Lc 6,37). Lời Thiên hàm Chúa bảo chúng ta cho dẫu đi ngược lại với thói quen sử dụng cái lưỡi của mình: “Đừng nói xấu nhau, thưa anh chị em” (Gc 4,11). ĐTC nói: bôi nhọ hình ảnh người khác là một cách tôn tạo hình ảnh của mình, nhằm trút sự oán hận và ghen tị mà không lưu tâm đến tai hại mình có thể gây ra. Rất nhiều khi người ta quên rằng phỉ báng người khác có thể là một tội lớn; một xúc phạm nghiêm trọng đến Thiên Chúa, khi nó xâm phạm nặng nề đến thanh danh của người khác và gây ra những tổn thất rất khó sửa chữa. Vì thế Lời Chúa tuyên bố cứng rắn về cái lưỡi khi nói rằng nó “là thế giới của sự ác”, nó “làm cho toàn thân bị ô nhiễm đốt cháy toàn thể cuộc đời” (Gc 3,6); nó là một “sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người” (Gc 3,8). Nếu như cái lưỡi có thể được dùng để “nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa” (Gc 3,9), thì tình yêu lại trân trọng hình ảnh của người khác một cách tinh tế đến nỗi cả bảo vệ thanh danh của kẻ thù. Chúng ta không bao giờ được quên đây chính là đòi hỏi  này của tình yêu.

Số 113. - Thực hành: Những đôi vợ chồng yêu thương nhau và thuộc về nhau nói tốt về nhau, họ tìm cách nêu lên mặt tốt của người bạn đời chứ không phải điểm yếu hay những sai lầm của người ấy.

-Bất luận trường hợp nào, đều giữ im lặng để không làm hại thanh danh người kia.

- Hành động này xuất phát từ một thái độ nội tâm. Họ nhắc nhớ rằng những khuyết điểm ấy chỉ là một phần chứ không phải là toàn bộ bản thân của người kia. Nguyên tắt: Một sự bất bình trong quan hệ không là tất cả mối quan hệ. (sự kiện Malaysia và Bắc Triều Tiên)

- Hãy nhớ rằng mỗi người đều mang trong mình một hỗn hợp của ánh sáng và bóng tối. Tình yêu sống chung với sự bất toàn, “dung thứ tất cả” và biết im lặng trước những giới hạn của người mình yêu.

11. Lòng yêu thương tin tưởng mọi sự (παντα πιστευει) Panta pisteúei

 Số 114. Diễn ngữ Panta pisteuei. [Tình yêu] “tin tưởng tất cả”.  Theo nghĩa “tin tưởng” mà chúng ta vẫn dùng. Vấn đề không chỉ là không nghi ngờ người kia đang nói dối hay lừa lọc ta, nhưng sự tin tưởng căn bản ấy còn nhận ra ánh sáng được thắp lên bởi Thiên Chúa khuất ẩn đàng sau bóng tối, hoặc như cục than hồng vẫn còn cháy đỏ bên dưới đống tro.

Số 115. Thực hành: - Tình yêu thì tin tưởng, để cho họ tự do, từ chối kiểm soát mọi sự, chiếm hữu, thống trị. Sự tự do này, vốn có thể tạo ra những không gian độc lập, mở ra với thế giới và đón nhận những kinh nghiệm mới, giúp các tương quan thêm phong phú và mở rộng.

- Bằng cách đó, vợ chồng sẽ san sẻ cho nhau niềm vui về tất cả những gì họ lãnh nhận và học được từ bên ngoài phạm vi gia đình.

- Đồng thời, tự do giúp người ta có được sự chân thành và minh bạch, vì khi biết rằng mình được những người khác tin tưởng và chân tình quí trọng lòng tốt thì sẽ cởi mở mà không giấu diếm điều gì. - Nếu một thành viên biết rằng những người khác luôn nghi ngờ mình, hoặc xét đoán mà không chút cảm thương và không yêu thương mình vô điều kiện, thì người đó sẽ có khuynh hướng giữ kín các bí mật của mình, che giấu các tội lỗi và yếu đuối của mình, và sống giả dối. Trái lại, một gia đình mà trong đó có sự tin tưởng vững vàng đầy yêu thương ngự trị, sẽ là nơi cho người ta luôn quay về trong tin tưởng dẫu cho bất cứ điều gì xảy ra, gia đình ấy sẽ giúp các thành viên sống căn tính đích thật của mình, và đương nhiên loại trừ sự lừa gạt, giả tạo, và dối trá.

 12. Tình yêu thương hy vọng mọi sự- παντα ελπιζει (Panta elpízei)

 Số 116. Panta elpizei: Tình yêu không thất vọng về tương lai. Tiếp nối từ ngữ trước, diễn ngữ này chỉ niềm hi vọng của người biết rằng người khác có thể thay đổi. Luôn hi vọng người khác một ngày nào đó có thể trưởng thành bất ngờ tỏa ra vẻ đẹp cũng như những tiềm năng chưa từng được biết. Điều này không có nghĩa là mọi sự sẽ thay đổi trong cuộc đời này. Từ đó biết chấp nhận rằng, dù mọi sự có thể không xảy ra như ta mong ước, Thiên Chúa vẫn hoàn toàn có thể uốn thẳng những đường cong và rút ra điều tốt lành nào đó từ sự dữ mà chúng ta phải chịu trong thế giới này. Đức cha Emmanuel: Đừng đóng kín con đường ân sủng, đừng làm nản lòng bất kỳ ai…Không có một toa thuốc chung[11].

Số 117.  Nói đến niềm hy vọng mang tính cánh chung. Hy vọng sẽ tiến tới chỗ trọn vẹn nhất là sự sông đời sau - Mỗi người, bất chấp mọi sai phạm của họ, đều được kêu gọi bước vào sự viên mãn của sự sống trên thiên đàng. Ở đấy, vì hoàn toàn được sự phục sinh của Chúa Kitô biến đổi, mọi yếu đuối, tối tăm và nhược điểm đều sẽ mất dạng. Ở đấy, hữu thể thực sự của người ta sẽ sáng lên trong mọi vẻ tốt lành và đẹp đẽ của họ. 

13. Lòng yêu thương chịu đựng mọi sự- παντα υπομενει (Panta hypoménei).

 Số 118. Panta hypomenei có nghĩa là [tình yêu] chấp nhận mọi sự trái ý với một tinh thần tích cực. Nghĩa là [tình yêu thì] đứng vững ngay giữa lòng môi trường thù nghịch. Không chỉ liên quan đến việc chịu đựng một số phiền hà, mà còn hơn thế nữa: một sự đề kháng năng động và liên tục, có khả năng vượt qua mọi thách đố. Đó là một tình yêu bất chấp tất cả, ngay cả trong những lúc hoàn cảnh lôi kéo sang hướng khác. Nó chứng tỏ một mức độ anh hùng can trường nào đó, một sức mạnh chống lại mọi trào lưu tiêu cực, một chọn lựa điều thiện không gì có thể lật đổ. Ở đây ĐTC nhắc đến những lời của Martin Luther King, khi xác nhận lại lựa chọn tình huynh đệ ngay giữa các cuộc bách hại và bị sỉ nhục tồi tệ nhất: “Người mạnh là người có thể chặt đứt dây xích oán hận, dây xích của sự dữ… Một ai đó phải có đủ ‘lòng tin’ và có ‘đạo đức’ để chặt đứt dây xích ấy và đưa vào trong chính cấu trúc của thế giới này yếu tố tình yêu mạnh mẽ đầy quyền năng”.[12]

Thực hành: -Trong đời sống gia đình, cần vun xới sức mạnh của tình yêu này, điều giúp chúng ta chiến đấu chống lại sự dữ đe dọa gia đình. -Tình yêu không để mình bị không chế bởi lòng oán hận, bởi sự coi thường người khác, bởi ước muốn gây tổn thương hoặc trả thù. - Lí tưởng Kitô giáo, đặc biệt trong gia đình, là tình yêu bất chấp mọi sự. (Câu chuyện mục vụ “đám cưới trên xe lăn” một kinh nghiệm mục vụ về tình yêu bất chấp tất cả tại giáo họ biệt lập Hòa Lâm vào khoảng 2001. Năm tôi mới thụ phong Linh mục 2001, tôi được Đức Cha sai về làm phó xứ Hòa Xuân đồng thời Đặc trách giáo họ Hòa Lâm...)


Kết luận

Trong đoạn cuối của Tông huấn ĐTC cho thấy không có gia đình nào hoàn hảo cả. Vì vậy mà ngài mời gọi các gia đình hãy bước đi cùng nhau, hãy nổ lực tiến đến điều cao cả hơn, hãy trưởng thành trong khả năng yêu thương và không ngừng tìm kiếm sự tròn đầy của tình yêu và sự hiệp thông mà Thiên Chúa đặt ra cho chúng ta.

“Không một gia đình nào rơi từ trên trời xuống được hình thành cách hoàn hảo cả; các gia đình cần liên lỉ lớn lên và trưởng thành trong khả năng yêu thương...Tất cả chúng ta đều được mời gọi để nỗ lực tiến đến một điều gì đó cao cả hơn chính bản thân chúng ta và gia đình chúng ta, và mọi gia đình phải cảm thấy động lực liên lỉ này. Chúng ta hãy thực hiện cuộc hành trình này như một gia đình, chúng ta hãy bước đi cùng nhau. (...) Chớ gì chúng ta không bao giờ nản lòng vì những giới hạn của chúng ta, hoặc dừng lại việc tìm kiếm một sự tròn đầy của tình yêu và sự hiệp thông mà Thiên Chúa đang đặt ra trước mắt chúng ta” (AL 325).



[1] Inhaxiô Loyola, Linh thao, Chiêm ngắm để được tình yêu (Esercizi spirituali, Contemplazione per raggiungere l’amore),230.

[2]Yonhap đưa tin, Viện Chiến lược an ninh quốc gia, một tổ chức nghiên cứu thuộc Cơ quan an ninh quốc gia Hàn Quốc, đã công bố sách trắng có tựa đề “Sai lầm của ông Kim Jong-un trong 5 năm nắm quyền”, tiết lộ chi tiết cách thức nhà lãnh đạo Triều Tiên dùng các vụ xử tử để củng cố quyền lực.

Theo tài liệu trên, Triều Tiên đã xử tử tổng cộng 340 người dưới thời lãnh đạo của ông Kim Jong-un, trong số đó có 140 quan chức cấp cao trong chính quyền, quân đội và đảng Lao động Triều Tiên. Một trong những quan chức bị xử tử là người chú dượng từng giữ vị trí quyền lực, Jang Song-thaek, vốn bị xử tử vào năm 2013 vì tội phản quốc” (Nguồn: <http://dantri.com.vn/the-gioi/trieu-tien-xu-tu-340-quan-chuc-ke-tu-khi-ong-kim-jong-un-len-nam-quyen-20161230043145028.htm>

[3] Nguồn: vụ ám sát Kim Jong Nam, BBC online 15 th02 2017 xem <http://www.bbc.com/vietnamese/live/world-38982363>

[4]Kim Jong-nam, 46 tuổi, là anh cùng cha khác mẹ với lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong-un.

Ông là con ngoài giá thú của Kim Jong-il với bà Sung Hae-rim, một diễn viên gốc Nam Hàn, người đã qua đời tại Moscow. Năm 2001, ông Kim bị bắt khi tìm cách nhập cảnh Nhật Bản bằng hộ chiếu giả. Vụ này khiến ông bị thất sủng với cha. Từ đó Kim Jong-nam sống cuộc đời thầm lặng chủ yếu ở nước ngoài, nhất là Macau. Ông được cho là theo xu hướng muốn cải cách kinh tế ở Bắc Hàn và do vậy bất hòa với em trai Kim Jong-un. Trong quá khứ, ông Kim Jong-nam đã từng bị ám sát hụt. Kim Jong-nam dường như bị tấn công bằng hóa chất khi chuẩn bị lên máy bay về Macau từ sân bay Kuala Lumpur hôm 13/2 nhưng vụ việc chỉ vỡ lở hôm 14/2”. (theo BBC online  15 th02 2017).

[5] Octavio Paz, La llama doble, Barcelona, 1993, 35.

[6] ST II-II, q. 114, a. 2, ad 1.

[7] HG (13.5.2015): L’Osservatore Romano, 14.5.2015, tr. 8.

[8] ST II-II, q. 27, a. 1, ad 2.

[9] ST II-II, q. 27, a. 1.

[10] Bài Giáo Lý (13 tháng 5, 2015): L’Osservatore Romano, 14 tháng 5, 2015, p. 8.

[11] ĐGM Emmanuel Nguyễn Hống Sơn, thường huần linh mục giáo phận Bà Rịa, tháng 1/2017.

[12] Martin Luther King Jr., Bài giảng trong Nhà thờ Battista ở Dexter Avenue, Montgomery, Alabama, 17.11.1957.

Đọc tiếp »

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2025

Giảng lễ an táng - Bà Cố cha Tổng Đại Diện Bà Rịa

 

Lễ An Táng Bà Cố Cha Tổng Đại Diện Bà Rịa

Đời Kitô Hữu Là một Cuộc Hành Hương về vĩnh cửu

 (Kn 3, 1-6; Pl 3, 20-21; Mc 15, 33-39)

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Cuộc đời con người như một cuộc hành hương đi về vĩnh cửu và cái chết của người Kitô hữu như là kết thúc cuộc hành hương để được về diện kiến với Thiên Chúa và hiệp thông trọn vẹn với Chúa Ba Ngôi. Hôm nay cộng đoàn chúng ta họp nhau cử hành lễ an táng cầu nguyện và tiễn đưa bà Cố Anna Lê Thị Miện về quê hương vĩnh cửu. Bà Cố như một người hành hương, đã hoàn tất cuộc hành hương trần thế đề về nhà Cha. Chúng ta nhìn lên thập giá Chúa Giêsu và cái chết của Người được Tin mừng Thánh Marco ghi lại hôm nay; để suy gẫm về cuộc hành hương mà Con Thiên Chúa như người anh đi trước dẫn cả nhân loại, trong đó có chúng ta, thực hiện cuộc hành hương đi về nhà Cha trên trời.

Có thể nói Chúa Giêsu, từ lúc nhập thể làm người, Ngài đã nhập cuộc hành hương. Tin mừng Thánh Luca ghi lại “khi đã đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa” (Lc 2,22). Như vậy từ lúc Chúa Giáng Sinh mới khoảng 40 ngày, Chúa Giêsu đã bắt đầu cuộc hành hương lên Giêrusalem với Đức Mẹ và Thánh Giuse; để rồi từ đó mỗi năm Chúa Giêsu đều cùng Đức Mẹ và thánh Giuse hành hương lên Giêrusalem. Thánh Luca ghi “Hàng năm cha mẹ Chúa Giêsu có thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc đó Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, ông bà cũng lên theo thói lễ” (Lc 2, 41-42). Và đích điểm của cuộc hành hương của Chúa Giêsu là Giêrusalem, là Đồi Sọ, là Thập giá, là đau thương tan nát, là cái chết và về cùng Chúa Cha. Nhưng như viên sĩ quan đã thốt lên khi nhìn lên thập giá lúc Chúa tắt thở: “quả thật người này là Con Thiên Chúa”. Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật: “ Ai theo ta sẽ có ánh sáng của sự sống” (Ga 8,12), và chúng ta tin vào lời xác quyết của Chúa Kitô: “khi ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” (Ga 12, 32). Chính từ thập giá Chúa Kitô, chúng ta nhận được ơn cứu độ. Chúa Kitô đã hành hương đi vào trong cả cái chết để đưa chúng ta từ trong cõi chết đến sự sống. Đức Thánh Cha Phanxico trong Tông sắc Spes non confundit (số 20) đã diễn giải đoạn thư 1 Thánh Phaolô (1 Cr 15,3-5) như sau: “Chúa Giêsu đã chết và sống lại là trung tâm đức tin của chúng ta… Đức Kitô đã chết, đã được mai táng, đã trỗi dậy, đã hiện ra. Người đã vượt qua bi kịch cái chết vì chúng ta. Tình yêu của Chúa Cha đã phục sinh Người trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, biến nhân tính của Người thành hoa quả đầu mùa vĩnh cửu cho phần rỗi của chúng ta. Niềm hy vọng Kitô giáo chính là ở điều này: đối mặt với cái chết, nơi mọi sự dường như chấm dứt, chúng ta biết chắc rằng, nhờ Chúa Kitô, qua ân sủng của Người được thông truyền cho chúng ta trong bí tích Rửa tội, “sự sống không mất đi, nhưng được thay đổi”[1], mãi mãi. Thật vậy, trong bí tích Rửa tội, khi được mai táng với Chúa Kitô, chúng ta nhận được nơi Người, Đấng Phục Sinh, hồng ân sự sống mới phá vỡ bức tường sự chết và biến nó thành một con đường đi về chốn trường sinh. Và nếu trước cái chết, một sự chia ly đau đớn buộc chúng ta phải xa lìa những người thân yêu nhất, mà chẳng có lời nào an ủi được, thì Năm Thánh Hy vọng sẽ mang lại cho chúng ta cơ hội tái khám phá, với lòng biết ơn sâu sắc, món quà sự sống mới đã nhận được nơi bí tích Rửa tội, có khả năng biến đổi bi kịch này” (Spes non Confundit, 20). Như vậy trong ân sủng của bí tích Thánh Tẩy do Chúa Giêsu thiết lập bằng chính máu của Người cho chúng ta niềm hy vọng, cho dẫu chúng ta có trãi qua cái chết chia ly và đau thương.

Bà Cố Anna Lê Thị Miện sinh ngày 01.01.1920 tại Nghệ An, và mất vào 29.01.2025 (nhằm vào 01.01.Ất Tỵ), xem ra Chúa cũng cho Bà Cố tuổi thọ tròn đầy và rất đẹp. Sinh vào đầu năm DL và mất vào đầu năm AL, tròn 105 tuổi, nếu không nói là bước qua năm thứ 106. Cuộc đời của bà cố, theo lời cha Tổng, có thể nói là một cuộc đời của một bà mẹ quê nghèo ở Nghệ An, chịu thương chịu khó, thương chồng thương con, sống đạo đức và kiên vững trong đức tin. Chính vì vậy mà bà cố trãi qua bao thăng trầm từ Bắc di cư vào Nam như bao người thời bấy giờ, lam lũ vất vã chăm lo cho gia đình, chăm sóc giáo dục các con nên người và trong đó có một bông hoa tuyệt đẹp dâng cho Chúa là cha Giuse Tổng Đại Diện. Một bà mẹ quê nghèo, hiền hòa chân chất, đạo đức. Đây chính là điều mà Đức Thánh cha Phanxico nhắc đến trong tông huấn Gaudete et Esxultate (Hãy Vui Mừng và Hân hoan - Lời mời gọi nên thánh trong thế giới hôm nay). Ngài gọi là những vị thánh của đời thường, những vị thánh sát bên cạnh chúng ta: “Tôi thích chiêm ngưỡng sự thánh thiện trong cuộc sống kiên nhẫn của dân Chúa: nơi những bậc cha mẹ đang nuôi dạy con cái với tình yêu thương bao la, nơi những người nam nữ đang chăm chỉ làm việc để nuôi sống gia đình, nơi người bệnh tật, nơi các tu sĩ già cả mà lúc nào cũng cười tươi. Nơi những cảnh đời hàng ngày đang kiên trì tiến tới như thế, tôi nhìn thấy sự thánh thiện của Hội thánh chiến đấu. Rất thường thì đó là một sự thánh thiện được tìm thấy nơi những người sát ngay bên nhà chúng ta, những người đang sống giữa chúng ta, đang phản ảnh sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta có thể gọi họ là “tầng lớp trung lưu của sự thánh thiện” (GE số 7). Nếu nói bà cố Anna đã thực hiện cuộc hành hương trong suốt 105 năm, thì quả thật hôm nay, bà đã về tới đích, đã gặp được Đấng Vĩnh Cửu, đã trở về chính “Quê hương vĩnh hằng”, như đoạn trích thư Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Philip trong Bài đọc 2 hôm nay một lần nữa nhắc nhở chúng ta rằng: “Quê hương chúng ta ở trên trời, chúng ta mong đợi Đấng Cứu chuộc là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta từ trời đến, Người sẽ biến đổi thân xác hèn hạ của chúng ta nên giống thân xác hiển vình của Người…” (Pl 3,20).

Một cuộc hành hương đúng nghĩa thì không thiếu yếu tố kham khổ hy sinh, hãm mình, phạt xác để tỏ lòng sám hối: đi chân đất, hoặc đi bằng đầu gối, uống nước lã, ăn bánh mì khô. Vì thể trãi qua cuộc hành hương trần thế Bà Cố Anna cũng trãi qua những vất vả khổ đau, nhất là những ngày cuối đời trên giường bệnh. Tuy nhiên các chị khi chăm sóc bà Cố cho biết rằng, bà Cố vẫn một tinh thần kiên định, có đau đớn nhưng không hề than vãn, bà Cố âm thầm chịu đựng và đôi khi còn hài hước, tỉnh táo. Có lần cha Viên[2] vào thăm Bà Cố thấy bà Cố nằm im lặng nên ngài hỏi “Bà cố có nhớ con không?”, Bà cố vẫn nhắm mắt trả lời: “Cha có còn đi bán trứng không?” cha Viên hết hồn luôn: Ôi bà Cố trí khôn còn minh mẫn quá!. Ngày hôm nay bọn trẻ thường khoe khoan dùng những phương tiện hiện đại: Ipad, Iphone, chat, Messenger, vẽ hình dùng kỹ thuật AI…Đừng xem thường Bà Cố, cách đây vài năm khi đã ngót nghét trên 100 tuổi, Bà Cố yếu chân không đi được nằm một chỗ trên giường,  mấy người con đưa bà Cố cái Ipad, tưởng để giải khoay cho vui sợ bà Cố cứ nằm một chỗ buồn! Vậy mà ai ngờ được Bà Cố mở trang web của giáo phận trong mùa Covid đi lễ trực tuyến hàng ngày, thấy Đức Cha dâng lễ còn cho nhận xét: “Đức Cha mình thấy gọn gàng hơn cha Tổng!”. Trong tuần cuối trước tết con thường đi ban bí tích xức dầu cho những người già yếu lớn tuổi để các cụ ăn tết cho ngon. Và năm nay ngày 22 trước tết con nhờ thêm vài cha cùng di xức dầu, con đến thăm xức dầu cho bà Cố, Bà cố thì thào chị Lan nghe được bà Cố nói “đau cái đầu, phải đo huyết áp”. Bà Cố còn rất tỉnh.

Có lần cha Tổng có nói với con, Bà Cố từng ước ao được chết trong Năm Thánh. Con nghĩ Chúa đã nhận lời bà cụ quê nghèo chất phác này, Chúa gọi bà về trong Năm Thánh. Như thế bà Cố đã hoàn tất cuộc hành hương về nhà cha. Với niềm xác tín vào Đức Kitô phục sinh, chúng ta tin rằng Bà Cố sẽ được diện kiến Đấng mà muôn dân hằng trông đợi,  Đấng là niềm hy vọng cho nhân loại như lời của ĐTC Phanxicô trong Tông sắc “Spes non Confundit”: “Đối với mọi người, ước gì Năm Thánh là một thời điểm gặp gỡ Chúa Giêsu cách sống động và cá vị, Người là “cánh cửa” ơn cứu độ (x. Ga 10,7.9), là “niềm hy vọng của chúng ta” (x. 1 Tm 1,1), là Đấng mà Giáo hội có nhiệm vụ phải loan báo luôn mãi, ở mọi nơi và cho tất cả mọi người”.

Hôm nay chúng ta cùng cầu nguyện cho Bà Cố và tiễn đưa bà về với Chúa. Người ta nói rằng trên cuộc đời này, trong những nỗi đau thì nỗi đau mất mẹ là lớn nhất, nỗi đau khiến một người trở thành mồ côi. Cha Tổng Đại Diện, từ lúc Bà Cố trở bệnh nặng, thì hầu như ngày nào cha cũng về thăm mẹ một chút. Như lời thơ của Sơn Ca Linh “con lo không về kịp tối nay”[3]. Con phần nào hiểu được tâm trạng của cha, mùa xuân này không còn mẹ nữa. Con xin chia buồn với cha.

Bà Cố kính mến! Xin Chúa dẫn đưa bà Cố về bến thiên đàng, và khi đã về hiệp thông với Chúa xin Bà Cố đừng quên cầu nguyện cho chúng con. Amen

Lm. GB. Trương Đình Hà

Vinh Châu 03/02/2025



[1] Sách Lễ Rôma, Kinh Tiền tụng I Thánh lễ cầu cho tín hữu qua đời.

[2] Cha G.B. Đoàn Văn Viên, Ngài coi họ Ruộng Tre, là họ lẽ của giáo xứ Vinh Châu, hiện nay là chánh xứ Bình Trung. Ngài nuôi vịt lấy trừng bán ở các chợ để giúp cho người Dân tộc Ruộng Tre.

[3] Trích bài thơ của Linh mục Sơn Ca Linh “con lo không về kịp tối nay”.

Đọc tiếp »

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2025

Suy niệm Chầu Tạ Ơn cuối năm - Tu Sĩ Bà Rịa 2025

 

SUY NIỆM CHẦU TẠ ƠN CUỐI NĂM – MỪNG XUÂN ẤT TỴ 2025

LIÊN TU SĨ GIÁO PHẬN BÀ RỊA

Lời Chúa: Xh 3, 1 – 5

“Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là Đất Thánh.”

Khởi nguyện

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! Một năm cũ trôi qua với biết bao biến cố vui buồn đang dần khép lại; thời khắc này chúng con muốn tìm về bên Chúa. Trong vòng tay yêu thương của Chúa, chúng con muốn xếp gọn lại những gì còn dang dở, những điều khiến chúng con hoang mang, đau buồn, hay có khi là mệt mỏi, chán nản muốn buông xuôi... để cùng với Chúa nhìn lại hành trình một năm qua, mà dâng Chúa lời Tạ Ơn vì biết bao hồng ân Chúa đã tuôn đổ và quan phòng trên Giáo Phận, trên Hội Dòng, trên gia đình và trên từng người chúng con trong suốt năm qua.

Lạy Chúa! Trong trong giây phút này, xin dâng lên Chúa từng người chúng con đang hiện diện nơi đây. Xin Chúa thương lắng nghe những lời tỏ bày khiêm hạ của chúng con. Xin đón lấy những lời ngợi khen, tôn vinh, cảm tạ và sám hối chân thành của mỗi người chúng con. Lạy Chúa, cảm tạ Chúa vì nếu Chúa không ở lại với chúng con nơi bí tích thánh thể, thì đời dâng hiến của chúng con trở nên trống vắng và cằn cỗi. Chỉ khi gắn kết với Chúa như cành nho liền với thân nho, chúng con mới sống ơn gọi cách sung mãn và tròn đầy.

Giờ đây, xin ban Thánh Thần trên chúng con để Người khai mở trí tâm, trí hiểu và giúp chúng con nghe, hiểu và đem Lời Chúa vào nhịp sống thường nhật của mình.

Đọc Lời Chúa: Xh 3, 1 – 5

Bấy giờ, ông Môsê đang chăn chiên cho bố vợ là Git – rô, tư tế Ma-đi-an. Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Môsê nhìn thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. Ông tự bảo: “Mình phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được: vì sao bụi cây lại không cháy rụi?” Đức Chúa thấy ông lại xem, thì từ giữa bụi cây Thiên Chúa gọi ông: “Môsê ! Môsê!” Ông thưa: “Dạ, tôi đây!” Người phán: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh.

Suy niệm

Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Mô-sê và Thiên Chúa được kể lại với nhiều chi tiết rất đẹp. Chính Thiên Chúa là người chủ động đến và gặp Mô-sê ngay trong nhịp sống thường ngày của ông. Ẩn sau cái nhịp sống đều đặn của một người chăn chiên, Mô-sê vẫn luôn là một kẻ khao khát đi tìm. Khi Mô-sê tìm đến núi của Đức Chúa và chính Đức Chúa đích thân gặp ông. Chúa hấp dẫn Mô-sê bằng một đám cháy từ giữa bụi gai, nhưng bụi gai không hề bị thiêu rụi. Dấu lạ ấy khơi lên sự tò mò và kéo Mô-sê tiến lại gần Chúa. Chúa bắt đầu dạy Mô-sê về cách thế để con người có thể trình diện trước mặt Thiên Chúa của mình.

 

“Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là Đất Thánh.”

1. Cởi bỏ đôi dép ở chân, Mô-sê cũng dần cởi bỏ những gì đang vướng bận và trói buộc đời ông. Đứng trước Thiên Chúa, bất cứ một sự che chắn và bảo vệ nào cũng đều trở nên không cần thiết, phải tháo bỏ tất cả những che đậy ngụy trang. Ai cũng phải đến với Chúa như mình là, dù đó là cái “là” trống trơn và trần trụi. Lời Đức Chúa phán với ông Mô sê năm xưa, dường như vẫn đang còn vang vọng cho đến ngày hôm nay, cho những ai thật sự muốn tìm gặp Chúa và nên nghĩa thiết với Ngài.

Con phải cởi bỏ đôi dép của đời thường với những lo toan, bận tâm cho sứ vụ, những dự tính còn dang dở, những thành công, thất bại đã qua, để xứng đáng bước vào nơi Đất Thánh. Nhờ đó con có thể hiện diện trước Chúa với tất cả con người của con, với trọn vẹn những gì con “là”.

Đất thánh cũng chính là cung lòng nội tâm của từng người chúng con, với bao bề bộn, lộn xộn thiếu trật tự, thứ tự ưu tiên, và sự lẫn lộn giữa cái tương đối và tuyệt đối, giữa Chúa và công việc của Chúa. Đất thánh còn là khung cảnh thánh thiêng nơi đây khi Chúa đang hiện diện vì thế con cần phải cởi dép con ra để xứng đáng bước vào nơi đất thánh. (thinh lặng)

“Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh.”

2. Đôi dép nào của con người cũng vương nhiễm bụi trần. Để chạm vào Đất Thánh của Chúa, người được gọi cần trả lại cho hồng trần những gì thuộc cõi hồng trần. Nhìn lại hành trình đời dâng hiến của mình, con nghĩ mình chẳng cần phải cởi dép. Vì đôi dép thường ngày của con rất sạch, nó đã được bao bọc bởi sự phòng vệ của chính con. Con bảo toàn đôi dép của mình bởi những tư tưởng của chính con về việc con sống ba lời khuyên phúc âm, con bỏ qua những lời nhắn nhủ, các chỉ dẫn và những tác động rất thân thương của Chúa dành cho con qua Lời của Ngài và qua những dấu chỉ của thời đại hôm nay. Trước Thánh Thể Chúa, con xin được cởi đôi dép của con, con xin tạ lỗi cùng Chúa vì con đã sống thiếu tinh thần kỷ luật, có đôi lúc còn làm hoen mờ hình ảnh của người tu sĩ trong nếp sống theo lẽ thường tình của đời thường. Xin lỗi Chúa vì con đã để cho tính thế tục len lỏi vào đời tu với chiếc áo thánh thiêng, khiến con ảo tưởng về cách sống của mình, về những giá trị sống. Xin Chúa giúp con dám cởi đôi dép đó để xứng đáng đến trước nhan Chúa trong giây phút thánh thiện này.

(thinh lặng)

“Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh.”

3. Chúng ta đang cùng nhịp bước vào năm thánh, năm của niềm hy vọng giữa một thế giới đang phải chịu đựng những tác động của chiến tranh, những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khí hậu. Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta bước vào hành trình gặp gỡ Chúa Giêsu cách sống động và cá vị, Người là “cánh cửa” ơn cứu độ (x. Ga 10,7.9) và “niềm hy vọng của chúng ta” (x. 1Tm 1,1), là Đấng mà Giáo Hội có nhiệm vụ phải loan báo luôn mãi, ở mọi nơi và cho tất cả mọi người.[1] Năm Thánh là thời gian ân sủng và hoán cải. Để lãnh nhận được ân sủng của năm thánh, chúng ta cần một cuộc hoán cải thực sự “hãy cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là Đất Thánh”. Chúng con cúi đầu thành tâm xin lỗi Chúa, vì trong suốt một năm qua, thay vì hết tâm chu toàn việc bổn phận, chúng con còn lơ là chểnh mảng. Thay vì ra sức xây dựng mái nhà của tình thân, chúng con lại làm phiền lòng nhau bằng sự ích kỷ, hẹp hòi, hơn thua, toan tính. Thay vì quảng đại để trao ban nụ cười cho người đang cần đến; lời hỏi thăm cho người chị em đau yếu; hay quan tâm đến những người nghèo khó quanh mình....chúng con lại sống chủ nghĩa “mắc kê no” trước tất cả. Con cứ sống theo lẽ tự nhiên, lợi thì chọn, thiệt thì bỏ. Chuỗi ngày sống của con thiếu đi những sự dấn thân đến với tha nhân – những người đang đau khổ cần đến sự nâng đỡ của chính con. Thiếu sự gắn bó với nguồn sống là chính Chúa, nên có lẽ đôi dép của con mang, đang dần dẫn con lầm đường lạc lối và một lúc nào đó con sẽ thấy chơi vơi và lênh đênh như không bến không bờ.

Chính thời điểm đặc biệt của năm thánh này, mời gọi chúng con sống hoán cải với niềm hy vọng hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn. Không chỉ là mong ước nhưng còn là gửi gắm nơi quyền năng của Thiên Chúa niềm tin cậy vững vàng, để khi chiêm ngắm trái tim bừng cháy lửa xót thương của Chúa, cũng khơi lên trong chúng con một con tim bừng cháy lửa khát khao tìm kiếm Ngài. Để ngang qua đó chúng con thổi bùng ngọn lửa hy vọng đã được truyền trao, đồng thời giúp mọi người lấy lại sức mạnh và sự chắc chắn mới để hướng về tương lai với một tinh thần mới mẻ, một tâm hồn phó thác, và một tầm nhìn rộng lớn.

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa vì năm thánh cho con nhiều cơ hội để sống tâm tình hoán cải, tri ân để cùng hiệp hành với anh chị em đón nhận ân sủng Chúa. Để ân phúc của năm thánh không trở nên vô ích nhưng giúp chúng con trở nên những người hành hương của hy vọng khi hướng về trời cao, nơi quê hương đích thực của chúng con. Niềm trông cậy đó thật sự phá tan trong chúng con những dằn vặt nghi ngờ và thật sự mở ra niềm hy vọng vào một mùa xuân, một năm mới bình an tươi sáng, một năm thánh tròn đầy và viên mãn. (thinh lặng)

Hát: Cát biển sao trời

Kết nguyện

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, năm cũ đang dần khép lại, khai mở một hành trình mới, với sắc Xuân đang tràn về mang đến cho chúng con niềm hy vọng mới. Giây phút này, chúng con chân thành đặt vào tay Chúa những gì còn dang dở của năm cũ, xin Chúa hãy trao vào tay chúng con Năm Mới với một ánh nhìn mới, để trong Chúa chúng con biết nhìn mọi sự với một lăng kính mới, lăng kính của tình yêu và hy vọng; dầu cho cuộc sống có lắm khó khăn, những nguy hiểm đang rình chờ. Vì lời của Vịnh Gia mời gọi chúng con xác tín rằng: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay”.

Lạy Chúa, đời dâng hiến đã miễn trừ cho chúng con những lo toan cho cuộc sống mưu sinh với bao bộn bề của cơm áo gạo tiền, thì xin cho chúng con biết dùng ân huệ Chúa ban mà chăm lo cho đời sống phần hồn và sống đời tu một cách đẹp lòng Chúa. Xin cho chúng con biết nhìn mọi sự dưới ánh nhìn của đức tin, để từng ngày chúng con cùng Chúa vẽ nên bức chân dung người tu sĩ họa theo khuôn mẫu là Đức Ki-tô; và làm nên 365 ngày đời của chúng con vang vọng lời cảm tạ tri ân. Và trong hành trình Ân Phúc của Năm Thánh Hy Vọng, trong ân sủng thời gian của năm mới, xin cho chúng con biết khám phá và tiến sâu hơn vào cung lòng nhân hậu của Thiên Chúa để tái tạo đời mình bằng kinh nghiệm được Chúa yêu thương. Có như thế, chúng con mới có thể sống sung mãn ơn gọi của mình và trao truyền ân phúc cho anh chị em đang cùng con nhịp bước về nhà Cha trên trời. Amen.

                                                                                                         

Tu Sĩ Hạt Long Hương

18/01/2025

Đọc tiếp »

Lễ an táng 3 - lm. GB Đình Hà

 LỄ AN TÁNG 3

(Lc 23, 33. 39-43)

Lm. GB. Trương Đình Hà

(anh Phêrô Nguyễn Tấn Cường họ Xuân Phong)

Tin Mừng Thánh Luca ghi lại giờ chết của Chúa Giêsu trên thập giá.

Chúa chết như một tên tử tội: Hình phạt là đóng đinh trên thập giá, giữa hai tên trộm cướp, họ liệt Chúa vào hàng trộm cướp cùng với hai người có quá khứ tội lỗi trộm cướp giết người mà mang bảng án tử hình đóng đinh thập giá. Ta thấy cuộc đời của Chúa từ lúc Chúa xuống thế làm người, Chúa sinh ra đã không có nhà, người ta gọi là sinh ở ngoài đường, đúng vậy Chúa sinh ra ở ngoài đường, thánh Giuse và Đức Mẹ trên đường vè Belem để khai sổ bộ, thì Đức Mẹ đến ngày sinh Chúa, và trong thành không tìm đựơc chỗ trọ nên thánh Giuse và Đức Mẹ đưa nhau ra hang đá, ngoài đồng vắng và Chúa sinh ra ở đó không giường không chiếu, không nhà…Rồi Chúa sống âm thầm ở Nazareth với Đức Mẹ và thánh Giuse. Ba năm sau cùng Chúa đi giảng Tin Mừng, nay đây mai dó không có nhà, Chúa nói:” Chim trời có tổ, con chồn có hang, còn Con Người không có chỗ tựa đầu”. Chúa giảng day suốt ngày làm phép lạ chữa lành bệnh tật cho nhiều người, đêm đến Chúa vào trong các hang đá nghỉ với các tông đồ hoặc vào trong núi một mình để cầu nguyện, Chúa ngã lưng goài đồng cỏ, trên núi cao, trên ghe thuyền ngoài biển… Và Chúa chết cái chết đau thương nhất giữa hai người trộm cướp, họ đã liệt Chúa vào hạng tộm cướp. Chúa chết cũng ở ngoài đường trên núi Sọ. Chúa sinh ra ngoài đường, Chúa chết cũng ngoài đường luôn. Chúa chia sẻ thân phận  nghèo khó lam lũ với con người. Chuá chia sẻ thân phận khốn cùng không nhà không cửa với con người, những người nghèo, những người vô gia cư không nhà cửa không có người thân, bạn bè.

Anh Phêrô Nguyễn Tấn Cường cùng với cha đến lập nghiệp ở đây, trong giáo xứ của chúng ta đã 30 năm, hai cha con đi làm thuê kiếm sống, ở nhà thuê nhà trọ đến giờ vẫn chưa có được miếng đất, ngôi nhà chính thức của mình. Vì vậy mà đến giờ vẫn không có tên trong danh sách của giáo họ. Anh có bệnh trong người nhưng không nói với ba mà chỉ nói với bạn bè. Bữa cuối cùng anh đang khỏe mạnh hớt tóc như mọi ngày, nghỉ ăn trưa xong anh nói với ba thấy đau, có lẽ đau tim và đi cấp cứu thì Chúa gọi anh về, cũng đột ngột. Chúng ta cầu nguyện cho anh, đồng thời cũng nghĩ đến những người nghèo khi chúng ta, trong những ngày cuối năm giáp tết lo lắng cho gia đình. Đôi khi mình làm việc bác ái giúp chỗ này chỗ kia, đi làm từ thiện xứ này xứ nọ, nhưng trong chính giáo xứ của mình có những người nghèo mà mình không nhận ra, không biết để mà giúp đỡ. Anh Phêrô đã chết như một người nghèo không có được ngôi nhà của mình để chết, nhưng chúng ta biết rằng Chúa chính là niềm hy vọng, là ánh sáng là chỗ nghỉ ngơi muôn đời. Chúng ta xin Chúa đoái thương cho anh vào nơi vĩnh cữu và Lời của Chúa trong Tin mừng hôm nay với người trộm lành: “Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”, chắc chắn Người cũng sẽ nói với anh Phêrô như vậy. Và chúng ta tin rằng anh sẽ được vào nhà cha nơi đó anh sẽ có được ngôi nhà vĩnh cửu không có mối mọt, không sợ trộm cắp, không còn khổ đau nữa.


Đọc tiếp »

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2024

Thánh Lễ Mừng 50 năm Linh mục cha Cố Giuse

 

THÁNH LỄ MỪNG 50 NĂM LINH MỤC

CHA CỐ GIUSE LÊ THANH

Lm. GB. Trương Đình Hà

         

          Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

          Chúng ta họp nhau hôm nay cử hành Thánh lễ đặc biệt, cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa với cha cố Giuse nhân kỷ niệm lễ Kim Khánh hồng ân Linh mục. Trong dịp trọng đại này, chúng ta hiệp thông với cha Cố nhìn lại chặng đường 50 năm đón nhận Hồng ân Thừa tác vụ linh mục, và vì là hồng ân Chúa ban nên cuộc đời linh mục là lời Tạ ơn liên lỉ.

1. Thừa tác vụ Linh mục là một hồng ân Chúa ban

          Khi chọn gọi các tông đồ theo Chúa, Chúa đã cầu nguyện khẩn thiết với Chúa Cha, chúa đã không đưa ra điều kiện nào cho họ. Chúa gọi Phêrô và Anrê khi hai ông đang thả lưới dưới biẻn, vì các ông làm nghề thuyền chài, thánh Mattheu ghi lại: “Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người” (Mt 1, 16-17), Chúa gọi Gioan và Giacôbê khi hai ông đang xếp lưới với cha mình dưới thuyền. Hay như việc Chúa gọi Lêvi người thu thuế. Ông đang làm công việc hàng ngày của một nhân viên thuế vụ, ngồi nơi bàn thu thuế, thì Chúa Giêsu đi ngang qua thấy ông và gọi ông. Thánh Marcô ghi lại: “Đi ngang qua trạm thu thuế, Người thấy ông Lêvi là con ông Anphê, đang ngồi ở đó. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người.” (Mc 2, 14) Như thế, việc Chúa chọn gọi là hoàn toàn do ân ban của Chúa, các tông đồ cũng không ngờ tới, không biết Chúa gọi mình nữa. Nhưng sẵn sàng đáp lại cách tự do và bước theo Chúa. Do đó ơn gọi và thừa tác vụ linh mục trước hết và trên hết, đó là một ân sủng, “hồng ân Thánh Thần, cho phép thực thi một quyền thánh chức, quyền này chỉ có thể phát xuất từ chính Đức Kitô, qua Hội Thánh của Người” (GLHTCG số 1537). Vì phát xuất từ Chúa Kitô, nên Chức linh mục thừa tác có trước và là nền tảng cho thừa tác vụ linh mục được Chúa Kitô trao ban cho những người được chọn gọi. Dù khi đã về hưu, già yếu bệnh tật hoặc trong hoàn cảnh không thể thi hành nhiệm vụ, linh mục vẫn là linh mục. Vì chức linh mục thừa tác là ân sủng của Thánh Thần nên “Không ai tự gán cho mình vinh dự là thượng tế nhưng phải được Thiên Chúa kêu gọi, như ông Aharon đã được gọi” (Dt 5,4). Vì là ân sủng được trao ban cho nên người lãnh nhận không có lý do gì để tự kiêu tự đắc cả, mà đúng hơn, phải biết đón nhận với lòng biết ơn và khiêm tốn. Sự khiêm tốn ấy vừa phát sinh từ ý thức về sự cao cả của hồng ân mình lãnh nhận, vừa phát xuất từ ý thức về sự mỏng dòn yếu đuối của bản thân. Như trong bài đọc thứ nhất hôm nay ngôn sứ Giêrêmia cho thấy Ngài được Thiên Chúa kêu gọi từ trong lòng mẹ: “Trước khi tạo thành ngươi trong lòng mẹ. Ta đã biết ngươi, và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã hiến thánh ngươi. Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc”.  Và Giêrêmia thưa lên cách khiêm tốn: “Lạy Chúa, là Thiên Chúa, tôi đâu có biết ăn nói vì tôi là con nít”. Nhưng Chúa nói “Ngươi đùng nói tôi là con nít, vì ngươi sẽ đi đến với những kẻ Ta sẽ sai ngươi đi, ngươi sẽ nói mọi điều Ta sẽ dạy ngươi nói, ngươi đừng sợ họ, vì Ta sẽ ở với ngươi để bảo vệ ngươi” và Chúa nói tiếp đây Ta đặt Lời Ta vào miệng ngươi”. Như thế ơn gọi và chức linh mục là hoàn toàn do Chúa thương ban.

2. Cả đời linh mục là lời tạ ơn

          Vì Thừa tác vụ linh mục là một hồng ân nên cả đời linh mục phải là lời tạ ơn Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, chúng ta đã gặp rất nhiều lời Tạ ơn “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ. Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (Tv 136); Lạy Chúa xin dâng lời cảm tạ. Ngài dã nghe lời miệng con xin (Tv 138). Hãy dâng Chúa bài ca cảm tạ. Gảy khúc hạc cầm mừng Thiên Chúa chúng ta (Tv 147). Nhưng có một lời tạ ơn trọn vẹn nhất và trở thành gương mẫu cho những lời tạ ơn của chúng ta đó là Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật. Ngài đã sống tâm tình tạ ơn Cha liên lỉ: “ Lạy Cha là Chúa cả trời đất con xin tạ ơn Cha vì Cha đã dấu những điều ấy với hạng khôn ngoan thông thái, mà đã mạc khải cho những người bé mọn.” (Mt 11, 25).

          Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô đã nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: lạy Thiên Chúa, nầy con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,5).

          Chính Chúa Giêsu, cả con người của Ngài, là lời tạ ơn đẹp nhất dâng lên Chúa Cha. Trong tiếng Hy lạp, Eucaristia có nghĩa là cám ơn, tạ ơn. Nên mỗi khi cộng đoàn Dân Chúa tham dự Thánh lễ là tạ ơn Chúa, dâng lên Chúa Cha Mình và Máu Chúa Giêsu. Và rồi chính Chúa Giêsu là của lễ và Bàn Thờ là hiến lễ tạ ơn dâng lên Chúa Cha. Có một sự trùng hơp là  hôm nay thứ sáu, phụng vụ kính nhớ trái tim Chúa, kính nhớ cuộc khổ nạn và Hy Tế Thập giá của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã tạ ơn Chúa Cha với  cả cuộc đời vâng phục và đạt đến trọn hảo khi Ngài dâng Hiến Tế tạ Ơn trên bàn thờ thập giá: “Lạy Cha, Con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó chính là lời tạ ơn trọn hảo nhất, đẹp nhất mà hôm nay trên mọi bàn thờ trên khắp thế giới, Giáo Hội cử hành Hiến Lễ Tạ Ơn.

          Chúng ta đang tham dự cuộc cử hành Lễ Tạ Ơn với Chúa Kitô.  Và Lời Tạ ơn bằng sự vâng phục của Chúa Kitô đã chuyển đến nhân loại, mời gọi con người cộng tác, và trong loài người chúng ta có một lời “xin Vâng” đáp lại, bù lại cho sự bất tuân phục của Adam và Eva. Đức Maria với lời Xin Vầng trọn vẹn đã đi vào trong “quỹ đạo Tạ Ơn” Thiên Chúa do Chính Chúa Giêsu đã vạch ra. Tâm tình Tạ Ơn của Đức Maria được gói ghém trong bài ca “Magnificat”, đó chính là “cuộc đời của Trinh nữ Maria” mà Tin Mừng hôm nay vừa nhắc đến là mô hình sống động, là mẫu gương sáng ngời để nhân loại bước đi trong “con đường tạ ơn” Thiên Chúa, trên nẽo đường đáp trả hồng ân. “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi”.

           Hôm nay khi chúng ta cùng Cha Cố ôn lại Hồng ân Linh mục và lời tạ ơn vì chính hồng ân đó, thì có lẽ Cha Cố đã trung thành sống cho đến cuối lời cam kết thuộc về Chúa Kitô, đời linh mục của Cha Cố cũng là Lời Tạ Ơn liên lĩ gắn chặt vào Đức Kitô trong thánh lễ mỗi ngày suốt 50 năm qua và vẫn còn tiếp tục cho đến khi về với Chúa. Cha Cố đã hiện diện ở vùng đất Xuyên Mộc này khoản thập niên 1980, lúc đó cả huyện chỉ có mình ngài. (Sau đó có thêm cha Cố Antôn Ngô Văn Hữu về coi sóc xứ Hòa Xuân chạy dài vào Bàu Lâm, trở ra Hòa Sơn, Hòa Tân (cha Hoàng hiện tại), Bà Tô, Hồ Tràm. Hôm nay Ngài cũng có mặt và con cũng có về giúp cho ngài khoảng 8 tháng ở giáo xứ Hòa Xuân). Năm 1984 con về vùng Xuyên mộc và từ đó giúp cho Cha Cố. Con nhớ lúc đó cha có cái xe Honda 67, từ sáng thứ bảy dâng lễ ở Văn Côi xong cha chở con đi dâng lễ ở Hòa Hội rồi vào “Bưng Kè”-Hòa Thuận bây giờ, đường đất đỏ lầy lội, có khi người ta đánh xe bò ra đưa vào. Rồi ngày Chúa nhật lễ Văn Côi xong là đi Bông Trang, Bưng Riềng (Hòa An), Bình Châu. Cứ đến xứ nào cha ngồi giải tội còn con dạy giáo lý (Tân định) cho cộng đoàn, lúc đó chưa có nhà thờ chỉ làm Lễ ở nhà ông trùm...Giờ đây những nơi đó đã thành những giáo xứ sầm uất. Vì vậy mà các cha ở đây gọi vui cha Cố Giuse Thanh là cha “Tổ phụ”. Nhắc lại vài điều quá khứ của cha như thế, nhưng khi nhìn lại cột mốc là ngày thụ phong linh mục, trong không khí hân hoan của ngày mừng lễ hôm nay, có lẽ cha Cố vẫn luôn thấy mình bất xứng và những ai sống đời linh mục đều luôn cảm nhận mình vẫn còn món nợ phải trả, như lời bài thơ: Linh mục một cuộc đời mắc nợ của linh mục Sơn Ca Linh sau đây:                                                                                                                                                                                          

Linh mục, một cuộc đời mắc nợ

Ôi linh mục ! Một cuộc đời mắc nợ !
Đến bao giờ mới trả cho xong?
Nhìn lại chính mình : Ôi kiếp phận long đong
Nợ lời cam kết từ thuở lên bàn thánh.

Nợ bài Thánh Vịnh chưa tròn của giờ Kinh Sáng
Nợ những giờ Chầu Thánh Thể chiều đông…
Mắc nợ bao người kẻ liệt ngóng trông,
Mắc nợ bài giảng chưa xong của ngày Chúa Nhật…

Mắc nợ người nghèo bàn tay thân mật,
Mắc nợ những em thơ ánh mắt dễ thương…
Tôi nợ người trẻ nhiệt huyết để lên đường,
Nợ các gia đình những lần ủi an thăm viếng…

Nợ đức khó nghèo, nợ lòng trong trắng,
Để nêu gương thánh thiện cho đời.
Nợ bao nhiêu cuộc sống lứa đôi,
Trái tim yêu thương và ánh nhìn thông cảm.

Nợ những bước chân của trưa nắng gắt, của chiều đông lạnh,
Để về thăm bao địa chỉ khó nghèo,
Những cụ già, những bệnh nhân trong xó tối hẩm hiu…
Khao khát chờ mong, chỉ một lần, gặp người mục tử!

Nợ những anh chị em cùng tôi chung một lý tưởng,
Tình huynh đệ, hiệp nhất và chung chia sướng khổ vui buồn.
Nợ những người lương, người phật, cả những kẻ vô thần,
Cuộc sống chứng nhân và tinh thần bao dung đối thoại.

Nợ màu trắng của mây, nợ màu xanh của lá,
Vũ trụ đẹp vô cùng sao lòng vẫn cứ khô ran…
Nợ đức hy sinh, lòng nhẫn nhục, nợ trái tim vàng, …
Mà những người cọng tác vẫn hằng luôn mong đợi…

Nợ những cô gái, những chàng trai bên vệ đường tội lỗi,
Họ vẫn mãi chưa về tìm lại mái ấm của người Cha…
Thánh lễ chiều nay sao vắng tiếng thánh ca ?
Ôi linh mục Một cuộc đời làm sao ta trả hết !

Con xin chúc mừng Cha Cố nhân dịp Lễ Vàng linh mục hôm nay, và xin Chúa tiếp tục ban nhiều ơn lành cho Cha, để những tháng năm còn lại trong cuộc đời vẫn là lời tạ ơn đẹp lòng Chúa. Amen.

(Nhà Thờ Hòa An Xuyên Mộc - Thứ sáu 28/06/2024)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc tiếp »