Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

GIÁO LÝ TÂN ĐỊNH



BẢN GIÁO LÝ HỎI THƯA 
(GIÁO LÝ TÂN ĐỊNH)
Gm. Nicôla Huỳnh Văn Nghi

PHẦN MỞ ĐẦU

1.     Hỏi: Ta sống ở đời này để làm gì?
Thưa: Ta sống ở đời này để nhận biết, thờ phượng kính mến Đức Chúa Trời là Cha chúng ta và thương yêu mọi người như anh em, cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp, cho ngày sau được hạnh phúc đời đời.
2.             Hỏi: Ta phải thờ phượng kính mến Đức Chúa Trời và thương yêu anh em cách nào?
Thưa: Ta phải thờ phượng kính mến Đức Chúa Trời và thương yêu anh em như đạo Người đã dạy.
3.             Hỏi: Đạo Đức Chúa Trời là đạo nào?
Thưa: Là đạo chính Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho loài người và Đức Chúa Giêsu đã hoàn thành và cùng uỷ thác cho Hội Thánh truyền lại cho ta. Đó là đạo Công giáo.
4.             Hỏi: Đạo Công Giáo dạy ta những gì?
Thưa: Đạo Công Giáo dạy ta biết Đức Chúa Trời là ai, người yêu thương ta thế nào, và ta làm thế nào để đáp lại lòng yêu thương đó.

BÀI THỨ I:
ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ BẢN TÍNH NGƯỜI

5.             Hỏi: Ta làm thế nào mà biết có Đức Chúa Trời?
Thưa: Ta nhìn xem trời đất muôn vật trật tự lạ lùng trong vũ trụ, liền biết có Đức Chúa Trời là Đấng tạo thành và an bài mọi sự.
6.             Hỏi: Đức Chúa Trời có tỏ mình cho ta biết không?
Thưa: Đức Chúa Trời đã nhờ các tổ phụ, các Tiên tri và chính Con Một Người là Chúa Giêsu Kitô mà tỏ mình cho ta.
7.             Hỏi: Đức Chúa Trời là Đấng nào?
Thưa: Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu, thiêng liêng, hằng có đời đời, quyền phép, thánh thiện, tốt lành, nhân từ, công bằng và chân thật vô cùng.
8.             Hỏi: Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời tự mình mà có, không phải do ai tạo thành.
9.             Hỏi: Đức Chúa Trời là Đấng thiêng liêng nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời không có hình hải thể xác nên ta không thấy được.
10.           Hỏi: Đức Chúa Trời ở đâu?
Thưa: Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi nên Người biết và thấy mọi sự, dầu những sự kín nhiệm trong lòng ta thì Người cũng thấu suốt nữa.
11.           Hỏi: Đức Chúa Trời hằng có đời đời nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là không lúc nào đời nào mà chẳng có Đức Chúa Trời.
12.           Hỏi: Đức Chúa Trời quyền phép vô cùng nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời làm tất cả mọi sự theo ý Người muốn.
13.           Hỏi: Đức Chúa Trời thánh thiện nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời cao trọng hơn tất cả mọi loài mọi vật, hằng yêu sự lành và ghét sự dữ.
14.           Hỏi: Đức Chúa Trời tốt lành vô cùng nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời hoàn hảo hết mọi sự, đáng mến vô cùng, và hằng ban mọi ơn lành cho ta.
15.           Hỏi: Đức Chúa Trời nhân từ vô cùng nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời thương hết mọi người và sẵn sàng tha thứ cho kẻ có tội thật lòng ăn năn.
16.           Hỏi: Đức Chúa Trời công bằng vô cùng nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời thương kẻ lành, phạt kẻ dữ, tuỳ theo tội phúc mỗi người.
17.           Hỏi: Đức Chúa Trời chân thật vô cùng nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Trời hằng nói sự thật, không thể sao lầm và chẳng hề dối ai.
BÀI THỨ II:
MẦU NHIỆM ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI
18.           Hỏi: Có mấy mầu nhiệm chính trong đạo?
Thưa: Có ba mầu nhiệm trong đạo:
– Một là mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi.
– Hai là mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người.
– Ba là mầu nhiệm Ngôi Hai cứu chuộc.
19.           Hỏi: Khi nào ta tuyên xưng mầu nhiệm ấy?
Thưa: Khi nào làm dấu thánh giá và đọc rằng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
20.           Hỏi: .Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi dạy ta sự gì?
Thưa: Mầu nhiệm một chúa ba ngôi dạy ta biết có một đức Chúa trời mà người có ba ngôi: Ngôi thứ nhất là Cha, Ngôi thứ hai là Con, Ngôi thứ ba là Thánh Thần.
21.           Hỏi: Trong Ba Ngôi có Ngôi nào hơn kém nhau không?
Thưa: Ba Ngôi bằng nhau không có Ngôi nào hơn không có Ngôi nào kém.
22.           Hỏi: Ai dạy ta mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi?
Thưa: Chính Chúa Giêsu đã day ta biết mầu nhiệm ấy như khi Người phán rằng “các con hãy đi rao giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19).
23.           Hỏi: Ba Ngôi làm gì cho ta?
Thưa: Chúa Cha đã tạo nên ta Chúa Con đã cứu chuộc ta và Chúa Thánh Thần thánh hoá ta.
24.           Hỏi: Ta phải làm gì đối với Đức Chúa Trời Ba Ngôi?
Thưa: Ta phải tin cậy kính mến thờ phượng và biết ơn nhất là phải năng nhớ Chúa Ba Ngôi ngự trong lòng ta như đền thờ Người. Chúa Giêsu phán: “Ai yêu mến ta thì vâng giữ lời Ta và Cha Ta sẽ thương yêu người ấy và Chúng Ta sẽ đến và ở nơi người ấy”.
BÀI THỨ III:
THIÊN CHÚA SÁNG TẠO VÀ QUAN PHÒNG
25.           Hỏi: Trời đất muôn vật bởi đâu mà có?
Thưa: Trời đất muôn vật bởi Đức Chúa Trời tạo thành mà có.
26.           Hỏi: Đức Chúa Trời làm thế nào mà tạo thành trời đất muôn vật?
Thưa: Đức Chúa Trời dùng quyền phép mình mà phán một lời thì bởi không liền có mọi sự.
27.           Hỏi: Vì ý nào Đức Chúa Trời tạo thành trời đất muôn vật?
Thưa: Đức Chúa trời tạo thành trời đất muôn vật có ý thông sự tốt lành của Chúa cho mọi loài, để cho sáng danh Chúa và cho ta được dùng mà mà làm sáng danh Chúa hơn nữa.
28.           Hỏi: Đức Chúa Trời còn tiếp tục săn sóc các loại thụ tạo hay không?
Thưa: Đức Chúa Trời còn tiếp tục săn sóc các loại thụ tạo nhất là loài người. Đó là việc Chúa quan phòng.
29.           Hỏi: Trong các loài Chúa đã tạo thành loài nào trọng hơn?
Thưa: Có hai loài trọng hơn : Một là thiên thần hai la loài người.
30.           Hỏi: Thiên Thần là loài nào?
Thưa: Thiên Thần là loài thiên liêng Đức Chúa Trời đã tạo thành để thờ phượng kính mến và vâng lệnh người cùng hưởng phúc đời đời.
31.           Hỏi: Các Thiên Thần có hưởng phúc đời đời không?
Thưa: Không được vì có một số phản nghịch cùng Đức Chúa Trời nên bị phạt trong hoả ngục. Đó là tà thần hay là ma quỷ.
32.           Hỏi: Các thiên thân có giúp đỡ người ta không?
Thưa: Các Thiên Thần nhất là Thiên Thần hộ thủ hằng gìn giữ hồn xác ta và soi sáng thúc giục ta làm lành lánh giữ. Nên ta phải tin cậy và tôn kính các vị ấy luôn.
33.           Hỏi: Loài người là loài nào?
Thưa: loài người là loài có linh hồn và xác Đức Chúa Trời đã tạo nên giống hình ảnh Người.
BÀI THỨ IV:
LOÀI NGƯỜI VÀ TỘI TỔ TÔNG
34.           Hỏi: Tổ tông loài người là ai?
Thưa: Tổ tông loài người là Ông Adong và Bà Evà.
35.           Hỏi: Ngoài Sự Sống tự nhiên Chúa còn ban cho tổ tông loài người những ơn nào nữa không?
Thưa: Chúa ban cho hai ông bà sự sống siêu nhiên và nhiều đặc ân khác nữa.
36.           Hỏi: Sự sống siêu nhiên là gì?
Thưa: Sự sống siêu nhiên chính là sự sống của Chúa thông ban cho ta để được làm con cái Chúa và sau này được hưởng hạnh phúc với người .
37.           Hỏi: Những đặc ân Chúa ban cho hai ông bà là những đặc ân nào?
Thưa: Chúa ban cho hai ông bà những đặc ân này là: trí khôn minh mẫn ý chí hướng về điều lành không phải khổ và không phải chết.
38.           Hỏi: Tổ tông ta có được hưởng mãi những ơn ấy không?
Thưa: Không vì tổ tông ta đã nghe ma quỷ mà phạm tội trái lệnh Chúa.
39.           Hỏi: Tội ấy có truyền lại cho con cháu không?
Thưa: Tội ấy có truyền lại cho con cháu nên gọi là tội tổ tông truyền.
40.           Hỏi: Tội tổ tông đã gây những thiệt hại nào?
Thưa: Tội tổ tông đã làm cho hai ông bà và con cháu mất sự sống siêu nhiên mất những đặc ân Chúa ban lòng trí ra yếu đuối tối tămphải đau khổ và phải chết.
41.           Hỏi: Sau khi tổ tông phạm tội Đức Chúa Trời có bỏ loài người không?
Thưa: Không người chẳng bỏ mà lại hứa ban một Đấng cứu thế chuộc tội loài người.
BÀI THỨ V:
NGÔI HAI XUỐNG THẾ LÀM NGƯỜI
42.           Hỏi: Đấng Cứu Thế là ai?
Thưa: Đấng Cứu Thế chính là Ngôi Hai, Con Một Đức Chúa Trời đã xuống thế làm người để cứu chuộc ta .
43.           Hỏi: Ngôi Hai xuống thế làm nguời tên gì?
Thưa: Ngôi Hai xuống làm người tên là Giêsu, nghĩa là Chúa cứu thế.
44.           Hỏi: Vì sao còn gọi Người là Đấng Kitô?
Thưa: Gọi là đấng Kitô vì Người đã được Chúa Thánh Thần xức dầu để làm Tiên tri giảng dậy sự thật, làm Tư tế thánh hoá nhân loại và làm Vua cai trị muôn loài.
45.           Hỏi: Ngôi Hai xuống thế làm người cách nào?
Thưa: Ngôi Hai đã đầu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần trong lòng Đức Nữ Đồng Trinh Maria là người có xác hồn như ta.
46.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu có mấy bản tính?
Thưa: Đức Chúa Giêsu có hai bản tính : một là bản tính Đức Chúa Trời, hai là bản tính loài người. Hai bản tính ấy kết hợp trong một Ngôi duy nhất là Ngôi thứ hai Đức Chúa Trời.
47.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu sinh ra ở đâu?
Thưa: Đức Chúa Giêsu sinh ra ở làng Bêlem trong xứ Giuđêa.
48.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu sống ở thế gian được bao nhiêu năm?
Thưa: Người sống ở thế gian chừng ba mươi ba năm.
49.           Hỏi: Trong thời gian ấy Người làm gì?
Thưa: Người sống ẩn dật ở Nazarét, rồi ba năm sau hết Người đi rao giảng Nước Trời làm nhiều phép lạ để chứng minh người là Đấng Đức Chúa Trời sai dến sau cùng chịu chết trên thập giá sống lại và lên trời.
50.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu sống ở Nazarét thế nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu sống ẩn dật, nghèo khó, Người cầu nguyện vâng lời và làm việc giúp đỡ Đức Mẹ và Thánh Giuse.
51.           Hỏi: Khi đi giảng đạo Đức Chúa Giêsu đã dạy những gì?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã loan báo tin mừng về nước Đức Chúa Trời người cũng dạy cho ta biết Đức Chúa Trời là Cha nhân từ là anh em với nhau.
52.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu có dạy về chính mình không?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã dạy ta biết Người là Con Đức Chúa Trời, cũng là Đức Chúa Trời thật và là Đấng Cứu Thế loài người đợi trông.
53.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã làm phép lạ nào?
Thưa: Người đã làm rất nhiều phép lạ như: Biến nước thành rượu, hoá bánh ra nhiều, xua đuổi ma quỷ, chữa các bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, nhất là chính Người sau khi chết đã tự mình sống lại.
BÀI THỨ VI:
NGÔI HAI CỨU CHUỘC
54.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu làm gì để cứu chuộc ta?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã tự hiến đời mình chịu đau khổ, chịu chết trên thập giá và sống lại để cứu chuộc ta.
55.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã tự hiến đời mình như thế nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu hằng vâng phục thánh ý Đức Chúa Cha trong mọi sự cho đến chết và chết trên thập giá.
56.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã chịu đau khổ thế nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã chịu nhiều đau khổ nơi thân xác và trong tâm hồn.
57.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã chịu những đau khổ nào trong thân xác?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã sống vất vả khó nhọc, rồi trong cuộc khổ nạn Người phó mình chịu đánh đòn, đội mũ gai, vác thập giá, chịu đóng đinh và chết giữa hai tên trộm cướp.
58.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã chịu những đau khổ nào trong tâm hồn?
Thưa: Trong khi ra giảng đạo, Đức Chúa Giêsu thường bị hiểu lầm, chống đối, rồi sau hết Người bị Giuđa phản bội, các môn đệ chối bỏ, dân chúng phỉ báng chê cười và chính Người cũng cảm thấy như bị Đức Chúa Cha ruồng bỏ.
59.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu chịu chết ở đâu, vào lúc nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá, ngoài thành Giêlusalem đời quan Phongxiô Philatô, vào ngày thứ sáu, áp lễ Vượt qua.
60.           Hỏi: Xác Đức Chúa Giêsu được mai táng ở đâu?
Thưa: Xác Đức Chúa Giêsu được môn đệ hạ xuống khỏi thập giá và đem mai táng trong huyệt đá mới.
61.           Hỏi: Còn linh hồn Đức Chúa Giêsu đi đâu?
Thưa: Linh hồn Đức Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông đem các thánh lên Thiên Đàng, vì từ khi Adong phạm tội thì chẳng ai được lên đó.
62.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu có sống lại không?
Thưa: Đức Chúa Giêsu chết chưa đủ ba ngày thì đã sống lại như Người đã báo trước.
63.           Hỏi: Vì ý nào Đức Chúa Giêsu sống lại?
Thưa: Đức Chúa Giêsu sống lại để chứng tỏ Người là Đức Chúa Trời thật đã chiến thắng tội lỗi và sự chết và để chúng ta cùng được sống lại với Người.
64.           Hỏi: Sau khi sống lại Đức Chúa Giêsu làm gì?
Thưa: Sau khi sống lại Đức Chúa Giêsu còn ở lại thế gian bốn mươi ngày, dạy dỗ, an ủi các môn đệ, sai các Ngài đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi, rồi Người lên Trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.
65.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu lên Trời có bỏ các môn đệ lại mồ côi không?
Thưa: Không, vì Người đã hứa ở cùng các môn đệ mọi ngày cho đến tận thế và đã sai Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, để soi sáng và thêm sức cho các Ngài.
66.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu còn đến thế gian nữa không?
Thưa: Ngày tận thế Đức Chúa Giêsu lại ngự đến uy nghi, sáng láng mà phán xét chung cả loài người.
BÀI THỨ VII:
ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN
67.           Hỏi: Đức Chúa Thánh Thần là đấng nào?
Thưa: Đức Chúa Thánh Thần là Ngôi thứ Ba, bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra, cùng một bản tính và một quyền năng như hai Ngôi cực trọng ấy.
68.           Hỏi: Đức Chúa Thánh Thần có hiện ra cho người ta thấy khi nào không?
Thưa: Đức Chúa Thánh Thần đã hiện ra trong hai dịp quan trọng này: một là khi Đức Chúa Giêsu chịu phép rửa tội ở sông Giođan, hai là trong ngày lễ Ngũ tuần khi các Thánh Tông đồ đang họp nhau cầu nguyện cùng với Đức Mẹ Maria.
69.           Hỏi: Đức Chúa Thánh Thần đã ban ơn gì cho các Thánh Tông đồ?
Thưa: Đức Chúa Thánh Thần đã ban ơn soi sáng trí khôn, thêm sức mạnh và thánh hoá các Tông đồ để các Ngài đi rao giảng Phúc âm và làm chứng về Chúa Kitô.
70.           Hỏi: Đức Chúa Thánh Thần làm gì trong Hội thánh?
Thưa: Đức Chúa Thánh Thần hằng gìn giữ, hướng dẫn, thánh hoá và canh tân Hội thánh ở thế gian này.
71.           Hỏi: Đức Chúa Thánh Thần làm gì cho chúng ta?
Thưa: Đức Chúa Thánh Thần ngự trong những người có ơn thánh hoá, làm cho ta trở nên con cái Chúa và ban ơn cần thiết, giúp chúng ta sống xứng đáng làm môn đệ Chúa Kitô.
72.           Hỏi: Ta phải làm gì đối với Đức Chúa Thánh Thần.
Thưa: Ta phải tin kính, thờ phượng, cầu xin Đức Chúa Thánh Thần và vâng theo ơn Người soi sáng cùng tôn trọng hồn xác ta là đền thờ của Người.
BÀI THỨ VIII:
HỘI THÁNH CHÚA KITÔ
A . Tổ chức và sinh hoạt của hội thánh.
73.           Hỏi: Sau khi Đức Chúa Giêsu về trời, ai tiếp tục công việc của Người ở trần gian?
Thưa: Sau khi Đức Chúa Giêsu về trời, thì Hội thánh do người sáng lập, tiếp tục công việc cứu chuộc nhân loại cho tới ngày tận thế.
74.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã lập Hội thánh thế nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng nước Đức Chúa Trời, qui tụ các kẻ tin theo Người và chọn riêng 12 tông đồ, đặt Phêrô thay mặt Người làm đầu Hội thánh ở trần gian. Chúa Giêsu nói với Phêrô rằng: “Con là Đá và trên Đá này Ta sẽ xây Hội thánh Ta và quyền lực hoả ngục sẽ không lấn át nổi. Ta sẽ trao cho con chìa khoá nước Trời. Con cần buộc điều gì dưới đất, thì trên trời cũng sẽ cầm buộc, con tháo cởi điều gì dưới đất thì trên trời cũng tháo cởi.”
75.           Hỏi: Đức Chúa Giêsu trao cho Hội thánh những nhiệm vụ nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã trao cho Hội thánh ba nhiệm vụ này là: giảng dạy, thánh hoá và cai quản các linh hồn.
76.           Hỏi: Hội thánh căn cứ vào đâu mà giảng dạy chúng ta?
Thưa: Hội thánh căn cứ vào Thánh Kinh và Thánh Truyền mà giảng dạy chúng ta.
77.           Hỏi: Khi giảng dạy, Hội thánh có thể sai lầm không?
Thưa: Khi giảng dạy về Đức tin và luân lý, thì Hội thánh không thể sai lầm được, vì có Đức Chúa Thánh Thần hằng soi sáng chỉ dẫn.
78.           Hỏi: Những ai được ơn không thể sai lầm?
Thưa:
– Một là Đức Giáo Hoàng khi lấy quyền Thánh Phêrô phán định điều gì về Đức tin hay luân lý mà buộc toàn thể Hội thánh phải tin và phải giữ.
– Hai là các giám mục khi hội Công đồng chung hợp nhất với Đức Giáo Hoàng, hoặc rải rác khắp nơi mà cùng dạy tín hữu điều gì phải tin hay phải giữ.
– Ba là toàn thể Hội thánh khi đồng lòng công nhận điều gì về đức Tin hay luân lý, thì không thể sai lầm.
79.           Hỏi: Hội thánh Công giáo gồm những ai?
Thưa: Hội thánh Công giáo gồm các tín hữu ở khắp thế gian, dưới quyền cai quản của Đức Giáo Hoàng và các Giám mục hợp nhất với Ngài.
80.           Hỏi: Đức Giáo Hoàng là ai?
Thưa: Đức Giáo Hoàng là Đấng kế vị Thánh Phêrô và thay mặt Đức Chúa Giêsu làm đầu Hội thánh ở trần gian.
81.           Hỏi: Các Đức Giám mục là ai?
Thưa: Các Đức Giám mục là những Đấng kế vị các Tông đồ theo ý Chúa Kitô để cai quản giáo phận, và cùng với Đức Giáo Hoàng phục vụ Hội thánh trên khắp hoàn cầu.
82.           Hỏi: Các Đức Giám mục có được ai giúp đỡ trong công việc cai quản các tín hữu giáo phận mình không?
Thưa: Có các Linh mục là những vị đã được Đức Giám mục phong chức, và bổ nhiệm để săn sóc các linh hồn.
83.           Hỏi: Tín hữu là ai?
Thưa: Tín hữu là những người đã lãnh Bí tích Rửa tội ở khắp thế gian, hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, làm thành dân Thiên Chúa.
84.           Hỏi: Người tín hữu có nhiệm vụ những nhiệm vụ gì đối với Hội thánh?
Thưa: Người tín hữu phải yêu mến, vâng lời bênh vực Hội thánh, nhất là cộng tác với hàng Giáo phẩm trong việc xây dựng Hội thánh và truyền bá đức tin.
85.           Hỏi: Hội thánh với quốc gia phân biệt thế nào?
Thưa: Hội thánh thì chuyên lo những việc thuộc phạm vi tôn giáo, còn quốc gia thì chuyên lo những việc thuộc phạm vi trần thế, nhưng cả hai cần phải hợp tác với nhau để mưu ích chung cho con người.
B .Mầu nhiệm Hội Thánh.
86.           Hỏi: Vì sao gọi Hội thánh là một mầu nhiệm?
Thưa: Gọi Hội thánh là một mầu nhiệm vì cùng với tổ chức hữu hình, Hội thánh còn có một sức sống siêu nhiên bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi, chuyển thông cho mọi người tín hữu.
87.           Hỏi: Mầu nhiệm Hội thánh được diễn tả trong Kinh thánh thế nào?
Thưa: Kinh thánh đã diễn tả Hội thánh bằng nhiều hình ảnh và danh hiệu, như là dân Thiên Chúa, Nước Trời, Hiền thê và Nhiệm thể Chúa Kitô.
88.           Hỏi: Tại sao gọi Hội thánh là Dân Thiên Chúa?
Thưa: Gọi Hội thánh là Dân Thiên Chúa vì cũng như xưa Chúa chọn dân Do Thái và lập ra thành dân riêng người đẻ gìn giữ lời hứa cứu thế, thì Hội thánh cũng được Chúa chọn để thay thế dân Do thái, tiếp tục công việc truyền bá ơn cứu chuộc giữa thế gian. Thánh Phêrô nói : “Anh em là giòng gống được tuyển chọn…Một Dân tộc Thánh, một dân tộc mà Chúa đã tự chọn lấy để anh em rao truyền những sự hoàn hảo của đấng đã gọi anh em từ bóng tối vào ánh sáng huyền diệu của Người, ngày xưa anh em không phải là một dân, nhưng ngày nay anh em là Dân Thiên Chúa”. (1Pr 2,9-10)
89.           Hỏi: Tại sao gọi Hội thánh là Nước Trời?
Thưa: Gọi Hội thánh là Nước Trời, vì Hội thánh cũng có phẩm trật và luật lệ tương tự như một nước trần gian nhưng không có bờ cõi lãnh thổ, trái lại tràn làn tới mọi tâm tâm hồn làm nên một nước đặc biệt, bắt đầu ở dưới thế để hoàn tất ở trên trời.
90.           Hỏi: Tại sao gọi Hội thánh là Hiền thê của Chúa Kitô?
Thưa: Gọi Hội thánh là Hiền thê của Chúa Kitô vì cũng như vợ chồng thương yêu, kết hợp với nhau trong cuộc sống, thì Hội thánh cũng đã được Chúa Kitô thương yêu và kén chọn để kết hợp mật thiết với Người. Thánh Phaolô đã nói: “Chồng làm đầu vợ như Chúa Kitô là đầu Hội thánh…Hỡi kẻ làm chồng, hãy thương yêu vợ mình như Chúa Kitô thương yêu Hội thánh và phó thác thân xác mình cho Hội thánh…Không ai ghét thân xác mình, trái lại nuôi dưỡng và săn sóc; đó chính là điều Chúa Kitô làm cho Hội thánh vậy.” (Eph 5,23-25.29)
91.           Hỏi: Tại sao gọi Hội thánh là Nhiệm thể Chúa Kitô?
Thưa: Gọi Hội thánh là Nhiệm thể Chúa Kitô vì cũng như đầu và thân thể nối kết và chuyển thông sự sống cho nhau thế nào, thì Chúa Kitô và Hội thánh cũng liên kết mật thiết với nhau như vậy. Thánh Phaolô nói: “Đức Chúa trời đã đặt Chúa Kitô trên tất cả mọi loài, làm đầu Hội thánh, Hội thánh ấy là thân thể Người, là sự sung mãn của Đấng hoàn tất mọi sự trong mọi người.” (Eph 1,22-23)
92.           Hỏi: Ta biết Hội thánh chân chính nhờ những dấu nào?
Thưa: Ta biết được Hội thánh chân chính nhờ bốn dấu này:
– Một là hợp nhất.
– Hai là thánh thiện.
– Ba là phổ biến.
– Bốn là Tông truyền.
93.           Hỏi: Vì sao ta biết được Hội thánh hiệp nhất?
Thưa: Vì tất cả các tín hữu đồng tâm nhất trí cũng tin như nhau, cũng lãnh các Bí tích như nhau, cầu nguyện chung với nhau và tuân phục một vị Thủ lãnh đại diện Chúa Kitô.
94.           Hỏi: Vì sao ta biết được Hội thánh là thánh thiện?
Thưa:
– Một là vì Chúa Giêsu, Đấng sáng lập Hội thánh là nguồn mạch sự thánh.
– Hai là giáo lý Người dạy và các Bí tích Người lập đều là sự thánh.
– Ba là vì những hoa trái thánh thiện hằng phát sinh trong Hội thánh Người.
95.           Hỏi: Vì sao Hội thánh có tính cách phổ biến?
Thưa: Vì Hội thánh có sứ mệnh và khả năng qui tụ tất cả mọi dân tộc về cùng Chúa Kitô và thực sự nơi nào, đời nào cũng có người gia nhập Hội thánh.
96.           Hỏi: Vì sao Hội thánh là Tông truyền?
Thưa: Vì các vị Thủ lãnh trong Hội thánh là những Đấng kế vị các Tông đồ, và giáo lý Hội thánh dạy là do Tông đồ truyền lại.
97.           Hỏi: Hội thánh nào có đủ bốn dấu ấy?
Thưa: Chỉ có Hội thánh Công giáo có đủ bốn dấu ấn ấy mà thôi.
BÀI THỨ IX:
CÁC THÁNH THÔNG CÔNG
98.           Hỏi: Các tín hữu trong Hội thánh có liên lạc với nhau không?
Thưa: Tất cả các tín hữu còn sống hoặc đã qua đời mà được lên Thiên Đàng hay còn trong luyện ngục, đều liên lạc mật thiết với nhau. Đó là tín điều các thánh thông công.
99.           Hỏi: Các tín hữu còn sống thông công với các thánh trên trời thế nào?
Thưa: Các tín hữu tôn kính, cầu xin các Thánh cầu bầu cho các tín hữu trước mặt Đức Chúa Trời.
100.         Hỏi: Các tín hữu còn sống thông công với các linh hồn trong luyện ngục thế nào?
Thưa: Các tín hữu dâng việc lành phúc đức cầu cho các linh hồn và các linh hồn câu bầu cùng Chúa cho ta.
101.         Hỏi: Các tín hữu còn sống thông công như thế nào?
Thưa: Các tín hữu thông công với nhau vì lời cầu nguyện và đời sống thánh thiện của mỗi người đều có ảnh hưởng đến những người khác.
102.         Hỏi: Tại sao các Thánh thông công cùng nhau?
Thưa: Vì Chúa đã kết hợp các tín hữu thành một nhiệm thể, mà Người là Đầu, nên mọi tín đồ có ơn Thánh hoá, dù sống hay đã chết, đều được hưởng một tình yêu và một sự sống thiêng liêng do chính Người ban cho.
BÀI THỨ X:
ĐỨC BÀ MARIA
103.         Hỏi: Đức Bà Maria là ai?
Thưa: Đức Bà Maria là Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu và cộng tác với Người trong công việc cứu thế.
104.         Hỏi: Đức Chúa Trời đã ban cho Đức Bà Maria những đặc ân nào?
Thưa: Đức Chúa Trời đã ban cho Người những đặc ân này:
– Một là được làm Mẹ Đức Chúa Trời.
– Hai là được ơn vô nhiễm nguyên tội.
– Ba là được đồng trinh trọn đời.
– Bốn là được lên trời cả hồn và xác.
105.         Hỏi: Vì sao Đức Bà Maria là Mẹ Đức Chúa Trời?
Thưa: Vì Đức Bà Maria đã sinh Đấng Cứu Thế là Ngôi Hai Đức Chúa Trời mặc lấy tính loài người, nên Đức Bà là Mẹ Đức Chúa Trời.
106.         Hỏi: Vô nhiễm nguyên tội nghĩa là gì?
Thưa: Nghĩa là ngay khi được thụ thai trong lòng Mẹ, nhờ công nghiệp Chúa Giêsu, Đức Bà Maria đã đầy ân sủng nên không mắc tội tổ truyền.
107.         Hỏi: Đồng trinh trọn đời nghĩa là gì?
Thưa: Nghĩa là khi thu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, và sinh ra Đức Chúa Giêsu thì Đức Bà Maria còn đồng trinh và vẫn còn đồng trinh cho đến chết.
108.         Hỏi: Chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là Đức Chúa Thánh Thần lấy quyền phép mình mà dựng nên một bào thai trong lòng Đức Mẹ và Ngôi Hai hợp cùng bào thai ấy mà làm người như ta.
109.         Hỏi: Vì sao Đức Bà Maria lại kết bạn với Thánh Giuse?
Thưa: Đức Bà Maria kết bạn với Thánh Giuse vì Thánh ý Chúa muốn cho Đức Bà và Chúa Giêsu có người bảo vệ dưỡng nuôi, và để nêu gương gia đình thánh thiện cho chúng ta.
110.         Hỏi: Đức Bà Maria cộng tác với Chúa Giêsu trong công việc cứu thế cách nào?
Thưa: Đức Bà sinh ra và nuôi dưỡng Chúa Cứu Thế, cùng thông phần đau khổ với Người nhất là trong cuộc tử nạn.
111.         Hỏi: Đức Bà Maria được Chúa thưởng công thế nào?
Thưa: Khi mãn cuộc đời dưới thế, Đức Bà Maria đã được Chúa đưa hồn xác về trời và đặt làm Nữ Vương trên trời dưới đất.
112.         Hỏi: Đức Bà Maria có phải là Mẹ chúng ta không?
Thưa: Phải, vì Đức Bà Maria là mẹ Chúa Giêsu là đầu nhiệm thể, mà chúng ta là chi thể, nên Người là Mẹ Hội thánh thì cũng là Mẹ chúng ta. Vả lại, trên Thánh giá chính Chúa Giêsu đã trối Đức Mẹ cho Thánh Gioan thay mặt loài người mà rằng: “Này là Mẹ con.”
113.         Hỏi: Chúng ta có bổn phận nào đối với Đức Mẹ?
Thưa: Ta phải đặc biệt tôn kính mến yêu, cầu xin và trông cậy Đức Mẹ, nhất là bắt chước các nhân đức của Người.
BÀI THỨ XI:
TỨ CHUNG
114.         Hỏi: Tại sao ta không sống mãi ở đời này?
Thưa: Vì tổ tông đã phạm tội nên mọi người đều phải chết, như lời Thánh Phaolô dạy rằng: “Bởi một người mà tội đã nhập vào thế gian, vì bởi tội thì phải có sự chết.” (Rm 5,12).
115.         Hỏi: Chết là gì?
Thưa: Chết là linh hồn lìa ra khỏi xác.
116.         Hỏi: Linh hồn ta có hư nát không?
Thưa: Không, vì linh hồn có tính thiêng liêng nên không hư nát được.
117.         Hỏi: Vậy sau khi chết số phận linh hồn ra sao?
Thưa: Linh hồn được Chúa Giêsu phán xét về mọi tư tưởng, lời nói, việc làm và những việc thiện phải làm ma đã bỏ qua.
118.         Hỏi: Phán xét rồi linh hồn đi đâu?
Thưa: Phán xét rồi, linh hồn lên Thiên đàng hoặc xuống hoả ngục, hay vào luyện ngục, tuỳ theo việc lành dữ đã làm khi còn sống.
119.         Hỏi: Những ai được lên Thiên đàng?
Thưa: Những người chết khi có ơn nghĩa cùng Chúa và đã đền tội đủ, thì được lên Thiên đàng.
120.         Hỏi: Thiên đàng là gì?
Thưa: Là nơi Thiên Thần và các Thánh được hưởng hạnh phúc đời đời, vì được thấy Chúa nhãn tiền và được kết hợp với Người trong tình yêu vô tận.
121.         Hỏi: Những ai phải xuống hoả ngục?
Thưa: Những kẻ dữ, nghĩa là những người chết đang khi mắc tội trọng, không có ơn nghĩa cùng Chúa, thì phải xuống hoả ngục.
122.         Hỏi: Hoả ngục là gì?
Thưa: Là nơi Đức Chúa Trời phạt ma quỷ và kẻ dữ, mà hình phạt nặng nhất là không được hưởng mặt Chúa, và phải xa cách Người đời đời.
123.         Hỏi: Những ai phải vào luyện ngục?
Thưa: Những người khi có ơn nghĩa cùng Chúa, nhưng còn mắc tội nhẹ hay chưa đền hết hình phạt bởi tội, thì phải vào luyện ngục mà đền cho hết mới được lên Thiên đàng.
124.         Hỏi: Ta có thể cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục bằng cách nào?
Thưa: Ta có thể dâng việc lành phúc đức như đọc kinh, lần hột, ăn chay hãm mình, bố thí, nhường ân xá, nhất là dự lễ và xin lễ cầu cho các linh hồn ấy.
125.         Hỏi: Xác ta có thể hư nát đời đời không?
Thưa: Không, đến ngày tận thế, xác ta hiệp với linh hồn mà sống lại chịu phán xét chung.
126.         Hỏi: Phán xét chung rồi số phận mỗi người ra sao?
Thưa: Phán xét chung rồi, kẻ dữ phải sa hoả ngục cả hồn cả xác, mà chịu khổ hình mãi mãi, còn người lành được lên Thiên đàng cả hồn cả xác mà hưởng hạnh phúc đời đời.
127.         Hỏi: Kinh nào tóm lại những điều phải tin?
Thưa: Kinh tin kính: Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất. Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu là Con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai sinh bởi Bà Maria đồng trinh, chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây Thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng, ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vật. Amen.
PHẦN BÍ TÍCH
BÀI THỨ I:
ƠN CHÚA
128.         Hỏi: Bởi sức tự nhiên ta có thể sống đẹp lòng Chúa được không?
Thưa: Nếu không có ơn Chúa giúp thì chẳng được, như lời Chúa Giêsu phán rằng: “Không có Thầy chúng con không thể làm gì được”(Ga 15,5)
129.         Hỏi: Ơn Chúa là gì?
Thưa: Là sự sống và sức mạnh siêu nhiên Đức Chúa Trời ban vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, cho ta được hạnh phúc đời đời.
130.         Hỏi: Có mấy thứ ơn Chúa?
Thưa: Có hai thứ :
– Một là ơn Thánh hoá.
– Hai là ơn trợ giúp.
131.         Hỏi: Ơn thánh hoá là gì?
Thưa: Ơn thánh hoá là sự sống của Chúa Ba Ngôi thông ban cho ta làm cho ta giống Chúa Kitô nên con hiếu thảo và đáng được hưởng gia nghiệp với người trên trời.
132.         Hỏi: Đức Chúa Trời thường dùng phương thế nào để ban ơn thánh hoá cho ta?
Thưa: Đức Chúa Trời thường dùng Bí tích Rửa tội để ban ơn thánh hoá cho ta.
133.         Hỏi: Khi nào ta mất ơn thánh hoá?
Thưa: Khi ta phạm tội trọng thì mất ơn thánh hoá.
134.         Hỏi: Ta phải làm gì để được ơn thánh hoá?
Thưa: Ta phải lãnh Bí tích giải tội hay ăn năn tội cách trọn khi không thể lãnh Bí tích ấy.
135.         Hỏi: Ơn trợ giúp là gì?
Thưa: Ơn trợ giúp là sức mạnh Chúa ban, giúp ta làm lành lánh dữ, để tăng thêm ơn thánh hoá, và khi ta mắc tội, thì giúp ta ăn năn trở lại.
136.         Hỏi: Chúa thường ban ơn trợ giúp cho ta khi nào?
Thưa: Chúa thường ban ơn trợ giúp cho ta khi ta cầu nguyện, làm việc lành và lãnh các Bí tích.
137.         Hỏi: Ta phải đón nhận ơn Chúa cách nào?
Thưa: Ta phải mau mắn đón nhận Chúa và hết lòng cộng tác chứ đừng từ chối ơn Người.
BÀI THỨ II:
BÍ TÍCH
138.         Hỏi: Bí tích là gì?
Thưa: Bí tích là dấu bên ngoài Đức Chúa Giêsu đã lập để chỉ ý nghĩa và chuyển thông ơn bên trong cho ta được nên thánh.
139.         Hỏi: Vì ý nào Đức Chúa Giêsu đã lập các Bí tích?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã lập các Bí tích để tiếp tục công việc cứu rỗi loài người, xây dựng Hội Thánh và thờ phượng Đức Chúa Trời.
140.         Hỏi: Trong các Bí Tích Đức Chúa Giêsu tiếp tục công việc cứu rỗi như thế nào?
Thưa: Trong các Bí Tích, khi Hội thánh cử hành nghi lễ, thì chính Chúa Giêsu hành động mà ban ơn cứu chuộc chúng ta.
141.         Hỏi: Các Bí tích xây dựng Hội thánh thế nào?
Thưa: Các Bí tích xây dựng Hội thánh bằng cách quy tụ loài người vào Hội thánh, và cho tham dự vào sự sống Chúa Kitô trong Hội thánh Người.
142.         Hỏi: Trong các Bí tích chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời thế nào?
Thưa: Trong các Bí tích chúng ta dùng những cử chỉ và kinh nguyện để tỏ lòng tin cậy, kính mến, ngợi khen và cảm tạ Đức Chúa Trời.
143.         Hỏi: Vì sao các Bí tích thường gọi là Bí tích đức tin?
Thưa: Vì khi lãnh các Bí tích thì ta phải có lòng tin, và nhờ các Bí tích, đức tin của ta càng được thêm mạnh mẽ và vững chắc hơn.
144.         Hỏi: Có mấy Bí tích?
Thưa: Có bảy Bí tích:
– Một là Bí tích Rửa tội.
– Hai là Bí tích Thêm sức.
– Ba là Bí tích Thánh thể.
– Bốn là Bí tích Giải tội.
– Năm là Bí tích Xức dầu bệnh nhân.
– Sáu là Bí tích Truyền chức Thánh.
– Bảy là Bí tích Hôn phối.
145.         Hỏi: Những Bí tích nào chịu được một lần mà thôi?
Thưa: Có ba Bí tích này:
– Một là Bí tích Rửa tội.
– Hai là Bí tích Thêm sức
– Ba là Bí tích Truyền chức Thánh
Vì ba Bí tích ấy in vào linh hồn một dấu thiêng liêng chẳng hề mất được.
146.         Hỏi: Trong bảy Bí tích, có Bí tích nào trọng hơn không?
Thưa: Có Bí tích Thánh thể trọng hơn, vì Bí tích này ban cho ta chính Đức Chúa Giêsu là nguồn mọi ơn phúc.
147.         Hỏi: Những Bí tích nào ban ơn thánh hoá cho ta?
Thưa: Có bí tích Rửa tội và Bí tích Giải tội, còn năm Bí tích kia chỉ thêm ơn thánh hoá mà thôi, cho nên ai sạch tội trọng mới được lãnh nhận năm Bí tích ấy.
148.         Hỏi: Phải làm thế nào để xứng đáng lãnh nhận Bí tích?
Thưa: Phải có lòng tin, có ý ngay lành, thành thật ước muốn và giữ sự trang nghiêm đứng đắn.
BÀI THỨ III:
BÍ TÍCH RỬA TỘI
Các con hãy đi giảng dạy muôn dân làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. (Mt 28,19).
149.         Hỏi: Bí tích Rửa tội là gì?
Thưa: Là Bí tích Đức Chúa Giêsu đã lập để sinh ta lại làm con Đức Chúa Trời và con Hội thánh.
150.         Hỏi: Vì sao Bí tích Rửa tội sinh ta lại làm con Đức Chúa Trời và con Hội thánh?
Thưa: Vì Bí tích Rửa tội xoá tội Tổ tông và các tội ta phạm, tha mọi hình phạt do tội gây ra, ban ơn thánh hoá và làm cho ta nên chi thể mầu nhiệm Chúa Kitô.
151.         Hỏi: Bí tích Rửa tội có cần cho được ơn cứu độ không?
Thưa: Bí tích Rửa tội rấ cần cho được ơn cứu độ, vì Đức Giêsu đã phán: “Ai không sinh lại bởi nước và Thánh Thần, thì chẳng đựơc vào nước Đức Chúa Trời”.
152.         Hỏi: Vậy thì những người không lãnh nhận Bí tích Rửa tội có thể được ơn cứu độ không?
Thưa: Những người không lãnh nhận Bí tích Rửa tội nhưng có thể nhờ lòng nhân từ Chúa được cứu độ là những người này:
– Một là người ao ước được làm con Chúa mà không thể lãnh nhận Bí tích Rửa tội được.
– Hai là những người chịu chết vì đạo.
– Ba là những người chưa được biết Phúc âm và Hội thánh Chúa nhưng vẫn theo lương tâm ăn ở ngay lành.
153.         Hỏi: Những ai được ban Bí tích Rửa tội?
Thưa: Lúc bình thường thì linh mục và Phó tế được ban Bí tích ấy, nhưng khi khẩn cấp thì mọi người đều có quyền và có bổn phận Rửa tội, miễn là làm theo cách thức và ý Hội thánh.
154.         Hỏi: Nghi lễ cốt yếu của Bí tích Rửa tội là nghi lễ nào?
Thưa: Là lấy nước lã đổ lên đầu kẻ lãnh Bí tích Rửa tôi, vừa đổ vừa đọc rằng “Tên thánh”, Tôi rửa em nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. (Có thể dùng cách xưng hô tuỳ trường hợp. Nước lã là nước mưa, nước sông, nước giếng, nước hồ, nước biển)
155.         Hỏi: Ngoài nghi lễ cốt yếu, còn những nghi lễ nào nữa không?
Thưa: Còn nhiều nghi lễ khác như:
– Làm phép nước.
– Từ bỏ tà thần.
– Xức dầu dự tòng.
– Tuyên xưng đức tin
– Mặc áo trắng và trao nến sáng.
156.         Hỏi: Người có tuổi khôn muốn được rửa tội gia nhập đạo Chúa thì phải làm gì?
Thưa: Phải làm ba việc này:
– Một là học biết giáo lý Phúc âm
– Hai là cải thiện đời sống.
– Ba là tham dự nghi thức gia nhập Kitô giáo.
157.         Hỏi: Kẻ lãnh Bí tích Rửa tội thề hứa những gì?
Thưa: Kẻ lãnh Bí tích Rửa tội thề hứa từ bỏ ma quỷ, xa lánh tội lỗi và tin theo Chúa Kitô cùng giữ lề luật Người.
158.         Hỏi: Khi Rửa tội có cần người đỡ đầu không?
Thưa: Khi Rửa tội, thường phải có người đỡ đầu làm cha mẹ thiêng liêng để nêu gương sáng và dìu dắt kẻ mình đỡ đầu sống xứng đáng người Công giáo.
159.         Hỏi: Ngay sau khi Rửa tội, người đã đến tuổi khôn thường lãnh nhận những Bí tích nào?
Thưa: Ngay sau khi Rửa tội, người đã đến tuổi khôn thường lãnh nhận Bí tích Thêm sức và Thánh thể nên Bí tích ấy được gọi là Bí tích nhập đạo.
160.         Hỏi: Nên cử hành Bí tích Rửa tội vào lúc nào?
Thưa: Nên cử hành Bí tích Rửa tội vào đêm vọng Phục sinh hoặc các ngày Chúa nhật để biểu lộ mối liên quan mật thiết giữa Bí tích Rửa tội và mầu nhiệm Phục sinh.
BÀI THỨ IV:
BÍ TÍCH THÊM SỨC
Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho sẽ ban cho các con một Đấng Phù trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi. Người là Thần chân lý mà thế gian không thể đón nhận… Còn các con biết Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con. (Ga 14,16-17)
161.         Hỏi: Bí tích Thêm sức là gì?
Thưa: Là Bí tích Đức Chúa Giêsu đã lập, cho ta nhân lãnh dồi dào của Chúa Thánh Thần để trở nên nhân chứng trung thành của Chúa Kitô trong đời sống tích cực xây dựng Hội thánh Người.
162.         Hỏi: Những ai có quyền ban Bí tích Thêm sức?
Thưa: Chỉ có các Giám mục và những Linh mục theo luật chỉ định, mới có quyền ban Bí tích ấy mà thôi.
163.         Hỏi: Khi ban Bí tích Thêm sức thì làm những nghi lễ nào?
Thưa: Khi ban Bí tích Thêm sức thì vị chủ lễ làm những nghi lễ này:
– Một là đặt tay lên đầu kẻ lãnh nhận Bí tích Thêm sức và cầu nguyện cho họ.
– Hai là lấy dầu Thánh ghi hìnhThánh giá lên trán mà đọc lời ban Bí tích Thêm sức.
– Ba là chúc bình an.
164.         Hỏi: Khi xức dầu Thánh lên trán, vị chủ lễ đọc những lời nào?
Thưa: Người đọc những lời này: T… Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần.
165.         Hỏi: Những ai được lãnh Bí tích Thêm sức?
Thưa: Những người đã được Rửa tội và có đủ điều kiện thì được lãnh Bí tích Thêm sức.
166.         Hỏi: Những ai muốn lãnh nhận Bí tích Thêm sức thì phải làm gì?
Thưa: Phải làm ba điều này:
– Một là học biết giáo lý đầy đủ hơn và cách riêng về Bí tích Thêm sức.
– Hai là phải sạch tội trọng.
– Ba là có lòng ước ao và dọn mình can thận để lãnh nhận Bí tích này.
167.         Hỏi: Khi lãnh Bí tích Thêm Sức có cần người đỡ đầu không?
Thưa: Phải có người đỡ đầu nâng đỡ, hướng dẫn trong việc giữ đạo và hoạt động tông đồ.
168.         Hỏi: Kẻ đã lãnh nhận Bí tích Thêm sức có những bổn phận nào?
Thưa: Có những bổn phận này:
– Một là phải can đảm thực hành lời Chúa và tuyên xưng đức tin.
– Hai là góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phúc âm.
– Ba là hăng hái tham gia hoạt động tông đồ giáo dân.
BÀI THỨ V:
BÍ TÍCH THÁNH THỂ
Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống (Ga 6,51,52)
169.         Hỏi: Bí tích Thánh thể là gì?
Thưa: Là Bí tích Đức Chúa Giêsu đã lập để tiếp tục lễ hy sinh trên Thánh giá, và để ban Mình Máu Người hiện diện trong hình bánh rượu, làm của nuôi linh hồn ta.
170.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh thể khi nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu lập ra Bí tích Thánh thể trong bữa tiệc ly trước khi Người chịu chết.
171.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu lập Bí tích này thế nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu cầm lấy bánh tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: “Các con hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình ta, rồi Người cầm lấy chén rượu nho, tạ ơn và trao cho các môn đệ mà phán: Các con hãy uống chén này, vì này là Máu ta, Máu của Tân ước sẽ đổ ra cho mọi người để được ơn tha tội”.
172.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu có ban quyền cho ai được cử hành Bí tích Thánh thể không?
Thưa: Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông đồ và những ai kế tiếp các Ngài trong chức Linh mục, khi phán rằng: “Các con hãy làm việc này và nhớ đến ta”.
173.         Hỏi: Khi nào bánh rượu trở nên Mình Thánh, Máu Thánh Đức Chúa Giêsu?
Thưa: Trong Thánh lễ, khi Linh mục chủ tế đọc lời truyền phép: “Này là Mình Ta…. Này là Máu Ta” thì bánh trở nên Mình Thánh Máu Thánh Đức Chúa Giêsu.
174.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu ngự trong Bí tích Thánh thể thế nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu ngự thật trong Bí tích Thánh thể, nghĩa là trong mỗi hình bánh, hình rượu, dù nhỏ mọn cũng có toàn vẹn Đức Chúa Giêsu.
175.         Hỏi: Ta phải kính thờ Đức Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể thế nào?
Thưa: Ta phải năng kính viếng và tôn thờ Thánh Thể, giữ sự nghiêm trang đứng đắn trong nhà thờ, nhất là siêng năng tham dự Thánh lễ và rước lễ.
BÀI THỨ VI:
THÁNH LỄ
176.         Hỏi: Thánh lễ là gì?
Thưa: Là hy tế mà Đức Chúa Giêsu nhờ tay Linh mục hợp cùng toàn thể dân Chúa, dâng mình cho Đức Chúa Cha như xưa chính Ngườu đã dâng mình trên Thánh giá.
177.         Hỏi: Tại sao Thánh lễ ngày nay là một lễ như xưa trên Thánh giá?
Thưa: Thánh lễ ngày nay cũng là một lễ như xưa trên Thánh giá, vì cũng là một Chúa Kitô làm chủ tế và của lễ, nhưng không còn đổ máu như xưa.
178.         Hỏi: Hội thánh dâng Thánh lễ vì ý nào?
Thưa: Hội thánh dâng Thánh lễ vì những ý này:
– Một là để kính nhớ mầu nhiệm Đức Chúa Giêsu chịu chết và sống lại, cũng trông đợi Người lại đến trong vinh quang.
– Hai là để thờ phượng, tạ ơn Chúa, xin Người tha thứ tội lỗi và ban cho ta được mọi ơn lành hồn xác.
179.         Hỏi: Ta phải dự Thánh lễ thế nào?
Thưa: Ta phải hợp lòng hợp ý với chủ tế và cộng đoàn để dâng lễ, giữ các nghi lễ, thưa kinh, hay ca hát chung với nhau, và rước lễ cho sốt sắng.
180.         Hỏi: Thánh lễ có mấy phần?
Thưa: Thánh lễ có hai phần:
– Phần thứ nhất là phụng vụ Lời Chúa.
– Phần thứ hai là phụng vụ Thánh Thể.
181.         Hỏi: Phụng vụ Lời Chúa lá phần nào?
Thưa: Là phần gồm những lời cầu nguyện, ngợi khen ta dâng lên Chúa và những lời Chúa dạy ta trong Kinh Thánh cùng bài diễn giảng, phần này khởi sự từ đầu lễ cho đến hết lời nguyện giáo dân.
182.         Hỏi: Phụng vụ Thánh Thể là phần nào?
Thưa: Là phần Hội thánh dâng lên Đức Chúa Cha Mình Thánh Máu Thánh Đức Chúa Giêsu làm của tế lễ, để vinh danh Chúa và áp dụng ơn cứu chuộc cho ta. Phần này bắt đầu từ lúc chuẩn bị lễ vật cho đến hết lễ.
183.         Hỏi: Phụng vụ Thánh Thể gồm những gì?
Thưa: Phụng vụ Thánh Thể gồm ba việc chính:
– Một là chuẩn bị lễ vật.
– Hai là kinh nguyện Thánh Thể.
– Ba là hiệp lễ hay rước lễ.
184.         Hỏi: Rước lễ thì được những ơn ích nào?
Thưa: Rước lễ thì được những ơn ích này:
– Một làm cho ta được kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu và hợp nhất với nhau.
– Hai là xoá bỏ các tội nhẹ và gia tăng ơn thánh hoá.
– Ba là thêm sức cho ta chống trả chước cám dỗ và sửa tính mê nết xấu.
– Bốn là bảo đảm cho ta được sống đời đời.
185.         Hỏi: Muốn rước lễ thì phải làm gì?
Thưa: Muốn rước lễ thì phải sạch tội trọng, có ý ngay lành và giữ chay một giờ trước khi rước lễ.
186.         Hỏi: Mỗi ngày được rước lễ mấy lần?
Thưa: Thường được rước lễ mỗi ngày một lần, trừ những trường hợp đặc biệt thì thì được rước lễ thêm một lần nữa.
BÀI THỨ VII:
BÍ TÍCH GIẢI TỘI
Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lội hối cải hơn là vì chin mươi chín người công chính không cần hối cải. (Lc15,7)
187.         Hỏi: Bí tích Giải tội là gì?
Thưa: Là Bí tích Đức Chúa Giêsu đã lập, để tha tội ta phạm từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội về sau, cùng giao hoà ta với Chúa và Hội thánh.
188.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã ban quyền tha tôi khi nào?
Thưa: Sau khi sống lại, Người hiện ra thổi hơi trên các Tông đồ mà nói: “Các con hãy nhận lấy Đức Chúa Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm buộc ai thì người ấy bị cầm buộc.”
189.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu ban ơn gì cho ta trong Bí tích Giải tội?
Thưa: Đức Chúa Giêsu ban cho ta những ơn này:
– Một là tha tội để giao hoà ta lại với Chúa và anh em.
– Hai là ban sức mạnh giúp ta chừa cải tội lỗi và sống xứng đáng người con cái Chúa.
190.         Hỏi: Những ai có quyền ban Bí tích Giải tội?
Thưa: Các Giám mục và những Linh mục nào được phép, đều có quyền ban Bí tích Giải tội.
190.         Hỏi: Những ai cần lãnh Bí tích Giải tội?
Thưa: Những tín hữu đã phạm tội trọng thì cần phải lãnh Bí tích Giải tội nhưng ai chỉ mắc tội nhẹ mà lãnh Bí tích này vì lòng sốt sắng thì nhiều ích lợi thiêng liêng.
192.         Hỏi: Muốn lãnh nhận Bí tích Giải tội thì làm những việc nào?
Thưa: Phải làm những việc này:
– Một là xét mình.
– Hai là ăn năn dốc lòng chừa.
– Ba là xưng tội.
– Bốn là đền tội.
193.         Hỏi: Xét mình là gì?
Thưa: Xét mình là nhớ lại từ ngày xưng tội lần sau hết cho đến bây giờ đã phạm những tội gì, phạm mấy lần và những trường hợp làm cho tội nặng hơn.
194.         Hỏi: Ăn năn tội là gì?
Thưa: Ăn năn tội là thật lòng thống hối vì phạm tội mất lòng Chúa và quyết tâm chừa cải không phạm lại nữa.
195.         Hỏi: Có cách nào giúp ta ăn năn tội không?
Thưa: Có ba cách này:
– Một là nhớ đến Đức Chúa Trời là Cha rất nhân từ hằng yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho ta.
– Hai là nhớ đến Đức Chúa Giêsu đã chịu đau khổ và chết trên thập giá vì tội lỗi ta.
– Ba là nhớ lại tội làm cho ta mất hạnh phúc Thiên Đàng và phải phạt ở đời sau, vì Chúa là Đấng Thánh thiện và công bằng vô cùng.
196.         Hỏi: Xưng tội là gì?
Thưa: Xưng tội là bày tỏ các tội mình ra cùng Linh mục đại diện Chúa Kitô.
197.         Hỏi: Phải xưng những tội nào?
Thưa: Phải xưng rõ ràng, hết mọi tội trọng, còn tội nhẹ không buộc phải xưng, nhưng nếu có lòng ăn năn mà xưng ra thì được thêm nhiều ơn ích.
198.         Hỏi: Kẻ chỉ giấu một tội trọng mà thôi có được tha các tội khác không?
Thưa: Kẻ ấy không được tha tội nào hết mà còn mắc thêm tội trọng là phạm sự Thánh, vậy khi xưng tội lần sau, phải xưng tội phạm sự Thánh này, những tội đã giấu, cùng các tội trọng đã xưng lần trước và tội trọng mới phạm nữa.
199.         Hỏi: Những tội trọng ta quên có được tha không?
Thưa: Cũng được tha nhưng khi xưng tội lần sau, nếu nhớ lại, thì buộc phải xưng những tội ấy.
200.         Hỏi: Đền tội là gì?
Thưa: Đền tội là làm những việc Cha giải tội dạy làm để tạ lỗi cùng Đức húa Trời, và đền bù những thiệt hại mình đã gây cho kẻ khác.
201.         Hỏi: Ngoài những việc Cha giải tội dạy làm, ta còn cách nào đền tội nữa không?
Thưa: Ngoài những việc Cha giải tội dạy làm, ta còn phải hy sinh hãm mình, làm việc phúc đức và hưởng nhờ ân xá.
202.         Hỏi: Ân xá là gì?
Thưa: Ân xá là ơn Hội Thánh ban, nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu, Đức mẹ và Các Thánh, để tha hình phạt tạm ta đáng chịu vì những tội đã được Chúa tha.
203.         Hỏi: Có mấy thứ ân xá?
Thưa: Có hai thứ ân xá:
– Một là đại xá.
– Hai là tiểu xá
Đại xá là tha hết mọi hình phạt tạm, còn tiểu xá chỉ tha một phần hình phạt mà thôi.
204.         Hỏi: Muốn hưởng nhờ ơn đại xá phải có những điều kiện nào?
Thưa: Phải có ba điều kiện này:
– Một là làm những việc mà Hội Thánh có ban ơn đại xá.
– Hai là xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.
– Ba là dứt lòng dính bén với mọi tội lỗi.
CÁCH XƯNG TỘI
205.         Hỏi: Để dọn mình xưng tội, ta nên làm gì?
Thưa: Ta nên cầu xin Đức Chúa Thánh Thần soi sáng cho ta nhận biết các tội ta phạm, và giúp ta thật lòng ăn năn.
206.         Hỏi: Có cách nào giúp ta để xét mình không?
Thưa: Có hai cách này:
– Một là xét theo mười điều răn Đức Chúa Trời, sáu điều răn Hội thánh và bảy mối tội đầu.
– Hai là xét theo việc bổn phận đối với Chúa, với chính mình và với người khác.
207.         Hỏi: Khi vào xưng tội thì phải làm sao?
Thưa: Khi vào xưng tội thì phải làm dấu thánh giá và nói: Con xưng tội được…(mấy tuần hay mấy tháng). Sau đó, bắt đầu xưng tội. Xưng tội xong thì nói: Thưa Cha , con đã xưng tội xong. Chú ý :Nên đọc kinh Ăn Năn Tội trước khi vào toà giải tội.
208.         Hỏi: Khi xưng tội xong thì phải làm gì?
Thưa: Phải chú ý nghe lời cha giải tội khuyên bảo và chỉ việc đền tội, và khi cha ban phép giải tội thì thưa: Amen. Sau hết (nếu nghe cha nói: hãy chúc tụng Chúa vì Người nhân lành, thì thưa: Vì lượng từ bi của Người tồn tại đến muôn đời) khi nghe cha bảo thì ra về và lo làm việc đền tội.
BÀI THỨ VIII:
BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN
Ai trong anh em đau yếu? Hãy mời Linh mục Hội thánh đến cầu nguyện cho bệnh nhân, đồng thời xức dầu cho người ấy nhân danh Chúa, và lời cầu nguyện do đức tin sẽ cứu chữa bệnh nhân bình phục, nếu có mắc tội thì họ sẽ được tha. (Gc 5,14-16)
209.         Hỏi: Bí tích Xức dầu là gì?
Thưa: Là Bí tích Đức Chúa Giêsu đã lập để nâng đỡ bệnh nhân về phần hồn và phần xác.
210.         Hỏi: Bí tích Xức dầu nâng đỡ phần hồn của bệnh nhân như thế nào?
Thưa: Bí tích Xức dầu tẩy sạch dấu vết tội lỗi, tha các tội quên sót hay những tội vì con bệnh mà xưng chẳng được, lại thêm sức chống trả chước cám dỗ, chịu đựng đau khổ góp phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô và giúp bệnh nhân dọn mình chết lành.
211.         Hỏi: Bí tích Xức dầu nâng đỡ phần xác như thế nào?
Thưa: Bí tích Xức dầu làm cho bệnh nhân bớt đau đớn hoặc khoẻ mạnh lại, nếu có ích cho linh hồn.
212.         Hỏi: Ai có quyền ban Bí tích Xức dầu?
Thưa: Chỉ có Linh mục mới có quyền ban Bí tích ấy mà thôi.
213.         Hỏi: Linh mục Xức dầu bệnh nhân thế nào?
Thưa: Linh mục lấy dầu thánh, xức lên trán và hai tay bệnh nhân mà đọc rằng: “Nhờ việc xức dầu thánh này, và nhờ lòng từ bi nhân hậu của Chúa, xin Chúa dùng nhiều ơn Chúa Thánh Thần mà giúp đỡ con, để Người giải thoát con khỏi mọi tội lỗi cứu chữa con và thương làm cho con thuyên giảm”. Amen.
214.         Hỏi: Ai cần lãnh Bí tích Xức dầu?
Thưa: Mọi giáo hữu đã đến tuổi khôn, mà thấy mình đau nặng hoặc người già nua kiệt sức thì cần lãnh Bí tích Xức dầu, không nên trì hoãn.
215.         Hỏi: Muốn lãnh Bí tích Xức dầu thì cần phải làm thế nào?
Thưa: Phải sạch tội trọng, nếu không thể xưng tội được thì phải có lòng ăn năn thống hối.
216.         Hỏi: Khi nào được lãnh Bí tích Xức dầu?
Thưa: Mỗi khi đau nặng hoặc khi trở bệnh và khi đau yếu mà phải giải phẩu, thì được lãnh Bí tích Xức dầu.
217.         Hỏi: Người coi sóc bệnh nhân phải làm gì?
Thưa: Phải lấy lòng bác ái săn sóc lo lắng thuốc thang và lấy đức tin an ủi khuyên bảo bệnh nhân vui lòng chịu đau đớn để thông phần đau khổ với Chúa Giêsu; Khi cơn bệnh trở nên trầm trọng thì báo tin cho cha sở hay và giúp bệnh nhân dọn mình lãnh các bí tích.
BÀI THỨ IX:
BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH
Cha muốn nhắn nhủ con hãy làm sáng tỏ ân điển Thiên Chúa đã đặt nơi con do việc đặt tay của Cha (2Tm 1,6)
218.         Hỏi: Bí tích Truyền chức thánh là gì?
Thưa: Là Bí tích Đức Chúa Giêsu đã lập để thông quyền Linh mục của Người cho những kẻ đã được tuyển chọn, cùng ban ơn cho họ được sống xứng đáng, và chu toàn chức vụ mình trong việc cứu độ loài người.
219.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu đã thông quyền Linh mục cho Hội thánh khi nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã thông quyền Linh mục lúc Người ban quyền tế lễ cho các Tông đồ sau khi lập Bí tích Thánh thể, Người phán rằng: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.
220.         Hỏi: Trong Bí tích Truyền chức thánh, Đức Chúa Giêsu trao cho Linh mục những quyền gì?
Thưa: Đức Chúa Giêsu trao quyền rao giảng lời Chúa, quyền tế lễ và ban các Bí tích, quyền cai trị để phục vụ dân Chúa.
221.         Hỏi: Ai có quyền ban Bí tích Truyền chức thánh?
Thưa: Chỉ có Giám mục có quyền ban Bí tích Truyền chức thánh mà thôi, vì các Ngài đã nhận quyền ấy nơi các Tông đồ.
222.         Hỏi: Ai được lãnh Bí tích Truyền chức thánh?
Thưa: Những người tín hữu có ơn thiên triệu, có đủ điều kiện theo Giáo luật và được Bề trên lên chức ấy.
223.         Hỏi: Người tín hữu có bổn phận gì đối với các Linh mục?
Thưa: Người tín hữu có bổn phận cầu nguyện cho các Linh mục, tôn kính, vâng lời trong các điều hợp lẽ đạo, và cộng tác trong việc xây dựng nước Chúa, sau hết cũng phải nâng đỡ các Ngài về tinh thần và vật chất nữa.
BÀI THỨ X:
BÍ TÍCH HÔN PHỐI
Người chồng hãy yêu mến người vợ mình, cũng như Đức Kitô yêu mến Hội thánh, và đã phó nộp mình Hội thánh.(Ep 5,23)
224.         Hỏi: Bí tích Hôn phối là gì?
Thưa: Là Bí tích Đức Chúa Giêsu đã lập để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ, thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội thánh, cùng ban ơn cho họ sống xứng đáng trong chức vụ của mình.
225.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu ban những ơn gì trong Bí tích Hôn phối?
Thưa: Đức Chúa Giêsu ban nhiều ơn đặc biệt để thánh hoá đời sống vợ chồng cùng giúp họ chu toàn nghĩa vụ đối với bạn mình và con cái.
226.         Hỏi: Nghĩa vụ vợ chồng là gì?
Thưa: Nghĩa vụ vợ chồng là phải trung thành yêu thương nhau, giúp đỡ nhau phần xác phần hồn, sinh sản và giáo dục con cái theo lề luật Chúa.
227.         Hỏi: Đức Chúa Giêsu dạy ta gì về Bí tích Hôn phối?
Thưa: Đức Chúa Giêsu dạy phải giữ, một vợ một chồng, không được ray bỏ nhau và phải sống hoà thuận với nhau cho đến chết, như Người đã phán: “Điều gì Đức Chúa Trời đã kết hợp thì loài người không được phân ly.”
228.         Hỏi: Phải có điều kiện nào để thành Bí tích Hôn phối?
Thưa: Phải có ba điều kiện này:
– Một là không mắc ngăn trở nào.
– Hai là hiểu biết và tự do chấp thuận việc hôn nhân.
– Ba là nói lên sự ưng thuận kết hôn theo nghi thức Hội thánh.
229.         Hỏi: Khi sắp kết bạn phải làm gì?
Thưa: Phải cầu nguyện, suy nghĩ, tìm hiểu nhau và bàn hỏi với người khôn ngoan, đồng thời phải học biết giáo lý, nhất là về Bí tích Hôn phối, và phải sống đứng đắn trong sạch.
230.         Hỏi: Cha mẹ có quyền ép duyên con cái mình không?
Thưa: Cha mẹ không có quyền ép duyên, nhưng có bổn phận giáo dục và chỉ dẫn con cái mình trong việc hôn nhân.
231.         Hỏi: Bậc hôn nhân Công giáo có quan trọng không?
Thưa: Bậc hôn nhân Công giáo quan trọng ví hai lẽ này:
– Một là vì tình yêu vợ chồng là hình ảnh tình yêu của Chúa Giêsu đối với Hội thánh Người.
– Hai là vì đôi bạn cộng tác với Đức Chúa Trời trong việc thêm số người thờ phượng Chúa đời này và đời sau.
BÀI THỨ XI:
ƠN THIÊN TRIỆU
Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa (Mt 9,37)
232.         Hỏi: Chúa có muốn cho hết mọi người giáo hữu sống trong bậc vợ chồng không?
Thưa: Chúa không muốn cho hết mọi người sống trong bậc vợ chồng, vì Chúa còn kêu gọi riêng nhiều người dâng mình phụng sự Chúa và phụng sự anh em đồng loại.
233.         Hỏi: Ơn Thiên triệu là gì?
Thưa: Ơn Thiên triệu là ý Chúa cho mỗi người ở một địa vị nào đó, nhưng theo nghĩa thông thường, thì ơn Thiên triệu là tiếng mầu nhiệm Chúa gọi một số người dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì, hay trong hàng giáo sĩ.
234.         Hỏi: Có dấu gì cho biết mình có ơn Thiên triệu không?
Thưa: Có ba dấu này:
– Một là có ý ngay lành.
– Hai là có đủ điều kiện.
– Ba là được bề trên ưng thuận.
235.         Hỏi: Kẻ muốn dâng mình cho Chúa thì phải làm gì?
Thưa: Phải cầu nguyện, suy nghĩ, xin người khôn ngoan chỉ dẫn và sẵn sàng đáp lời Chúa gọi.
236.         Hỏi: Kẻ dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì thường khấn giữ sự gì?
Thưa: Kẻ dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì thường khấn giữ ba điều này:
– Một là nghèo khó.
– Hai là trong sạch.
– Ba là vâng lời.
237.         Hỏi: Cha mẹ có quyền ngăn cấm hoặc ép buộc con cái dâng mình cho Chúa không?
Thưa: Cha mẹ không có quyền làm như vậy vì trái ý Chúa và luật Hội thánh, nhưng khi con cái muốn thật lòng dâng mình cho Chúa, thì cha mẹ phải nâng đỡ và sẵn lòng vâng theo thánh ý Người.
238.         Hỏi: Bậc vợ chồng và bậc tu trì, bậc nào trọng hơn?
Thưa: Bậc tu trì trọng hơn vì người tu trì dâng trọn đời mình để chuyên lo việc Chúa, và phục vụ anh em đồng loại.
BÀI THỨ XII:
PHỤ BÍ TÍCH (CÁC Á BÍ TÍCH)
239.         Hỏi: Phụ Bí tích là gì?
Thưa: Là những dấu bề ngoài Hội thánh lập ra để nhờ đó tín hữu có lòng siêu nhiên nhận được nhiều ơn Chúa giúp, do lời Hội thánh cầu xin.
240.         Hỏi: Có mấy loại phụ Bí tích?
Thưa: Có ba loại phụ Bí tích:
– Loại thứ nhất gồm lễ nghi làm phép người và đồ dùng.
– Loại thứ hai gồm những lễ nghi cung hiến người và đồ vật dành riêng làm việc thờ phượng.
– Loại thứ ba gồm những lễ nghi trừ khử ma quỷ.
241.         Hỏi: Hội thánh có ý gì khi lập ra phụ Bí tích?
Thưa: Hội thánh có ý cho ta hiểu rằng ơn cứu chuộc có thể khử trừ ảnh hưởng xấu của ma quỷ và làm cho mọi vật nên phương tiện làm thánh giúp ta kết hợp với Chúa.
242.         Hỏi: Đối với các phụ Bí tích, ta phải có tâm tình nào?
Thưa: Đối với các phụ Bí tích, ta phải có lòng tôn kính và tin tưởng, nhưng cần tránh mê tín dị đoan.
BÀI THỨ I:
SỐNG THEO Ý CHÚA
243.         Hỏi: Ta phải làm gì để xứng đáng là con cái Chúa?
Thưa: Ta phải nhận biết và tuân theo thánh ý Chúa là Cha của chúng ta, như chính Chúa Giêsu đã làm gương cho ta.
244.         Hỏi: Làm sao ta biết được thánh ý Chúa?
Thưa: Ta biết được thánh ý Chúa bằng bốn cách này:
– Một là nhờ luật tự nhiên Đức Chúa Trời đã in trong lương tâm mỗi người.
– Hai là nhờ mười điều răn Đức Chúa Trời đã truyền cho ông Maisen trên núi Sinai.
– Ba là nhờ lời Chúa dạy trong Kinh Thánh, nhất là luật Bác ái của Phúc âm.
– Bốn là nhờ lời giáo huấn và những luật lệ Hội thánh thay mặt Chúa mà dạy dỗ chúng ta.
245.         Hỏi: Lương tâm là gì?
Thưa: Lương tâm là tiếng Chúa nói trong linh hồn bảo ta làm lành lánh dữ.
246.         Hỏi: Phải làm gì để lương tâm ta khỏi bị lu mờ?
Thưa: Phải lánh xa tội lỗi, từ bỏ tính hư nết xấu, tránh mọi ảnh hưởng tai hại xung quanh, và phải học cho biết rõ đạo lý Đức Chúa Trời.
247.         Hỏi: Mười điều răn Đức Chúa Trời là những điều nào?
Thưa: Là mười điều này:
– Thứ nhất: thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.
– Thứ hai: chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.
– Thứ ba: giữ ngày Chúa nhật.
– Thứ bốn: thảo kính cha mẹ.
– Thứ năm: chớ giết người
– Thứ sáu: chớ làm sự dâm dục
– Thứ bảy: chớ lấy của người.
– Thứ tám: chớ làm chứng dối.
– Thứ chín: chớ muốn vợ chồng người
– Thứ mười: chớ tham của người.
Mười điều răn tóm về hai điều này mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy .
248.         Hỏi: Đức Chúa Trời đã dạy luật Bác ái như thế nào?
Thưa: Đức Chúa Giêsu đã dạy luật Bác ái bằng đời sống và lời giảng dạy trong Phúc âm nhất là trong bài giảng trên núi.
Tám mối phước thật mở đầu bài giảng trên núi:
– Thứ nhất: ai có lòng khó khăn ấy là phước thật, vì chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.
– Thứ hai: ai hiền lành ấy là phước thật, vì chưng sẽ được đất Đức Chúa Trời làm của mình vậy.
– Thứ ba: ai khóc lóc ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được yên ủi .
– Thứ bốn: ai khao khát nhân đức trọn lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy.
– Thứ năm: ai thương xót người ấy là phước thật, vì chưng mình sẽ được thương xót vậy.
– Thứ sáu: ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phước thật, vì chưng sẽ được thấy mặt Đức Chúa Trời vậy.
– Thứ bảy: ai làm cho người hoà thuận ấy là phước thật, vì chưng sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời vậy.
– Thứ tám: ai chịu khốn nạn vì đạo nguy ấy là phước thật, vì chưng nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.
BÀI THỨ II:
NHÂN ĐỨC
249.         Hỏi: Ta phải làm gì để theo gương Đức Chúa Giêsu?
Thưa: Để theo gương Đức Chúa Giêsu, ta phải tập luyện các nhân đức.
250.         Hỏi: Có mấy thứ nhân đức?
Thưa: Có hai thứ:
– Một là nhân đức tự nhiên
– Hai là nhân đức siêu nhiên.
251.         Hỏi: Nhân đức tự nhiên là gì?
Thưa: Nhân đức tự nhiên là những thói quen tốt, do sức ta tập được, giúp ta làm lành lánh dữ một cách dễ dàng ngay thẳng, thật thà, liêm chính.
252.         Hỏi: Nhân đức siêu nhiên là gì?
Thưa: Nhân đức siêu nhiên là những khả năng Đức Chúa Trời đã phú vào linh hồn ta khi lãnh Bí tích Rửa tội, để ta sống xứng đáng là con cái Chúa và đáng được phần thưởng muôn đời.
253.         Hỏi: Có mấy thứ nhân đức siêu nhiên?
Thưa: Có hai thứ:
– Một là những nhân đức đối Thần trực tiếp quy về Đức Chúa Trời.
– Hai là những nhân đức luân lý giúp ta sống trong xã hội theo tinh thần của Chúa.
254.         Hỏi: Có mấy nhân đức đối thần?
Thưa: Có ba nhân đức đối thần là đức Tin, đức Cậy, và đức Mến.
255.         Hỏi: Có mấy nhân đức luân lý?
Thưa: Có nhiều nhân đức luân lý, nhưng có bốn nhân đức căn bản này là: Khôn ngoan, Công bình, Dũng cảm và Tiết độ.
BÀI THỨ III:
NHÂN ĐỨC ĐỐI THẦN

ĐỨC TIN
256.         Hỏi: Đức tin là gì?
Thưa: Đức tin là nhân đức siêu nhiên giúp ta vững lòng phó thác vào Chúa mà chấp nhận những điều Chúa dạy và nhờ Hội thánh truyền lại cho ta.
257.         Hỏi: Tại sao ta tin những điều Chúa dạy?
Thưa: Ta tin những điều Chúa dạy vì Người là Đấng chân thật, không thể sai lầm và lừa dối ai.
258.         Hỏi: Đức tin có cần cho ta được ơn cứu độ không?
Thưa: Đức tin rất cần cho ta được ơn cứu độ, như lời Thánh Kinh dạy: “Không có đức tin, thì không đẹp lòng Đức Chúa Trời.”(Heb. 11,6)
259.         Hỏi: Có những tội nào nghịch cùng đức tin?
Thưa: Có những tội này:
– Một là cố tình hồ nghi hay chẳng tin những điều Chúa dạy.
– Hai là khi cần mà hổ thẹn không dám tỏ mình ra người Công giáo.
– Ba là liều mình trong những dịp nguy hiểm có thể làm mất đức tin.
– Bốn là chối đạo.
260.         Hỏi: Sống theo đức tin là làm sao?
Thưa: Sống theo đức tin là tập cho quen phán đoán mọi sự theo giáo huấn phúc âm và ra sức thực hiện những điều ấy trong đời sống mình.
261.         Hỏi: Có kinh nào giúp ta thêm lòng tin không?
Thưa: Có kinh đức tin: Lạy Chúa con, con tin thật có một Đức Chúa Trời là Đấng thưởng phạt vô cùng. Con lại tin thật Đức Chúa Trời có Ba Ngôi mà Ngôi thứ Hai đã xuống thế làm người chịu nạn chịu chết mà chuộc tội cho thiên hạ. Bấy nhiêu điều ấy cùng các điều Hội thánh dạy, thì con tin vững vàng, vì Chúa là Đấng thông minh và chân thật vô xùng đã phán truyền cho Hội thánh .Amen.
ĐỨC CẬY
262.         Hỏi: Đức cậy là gì?
Thưa: Đức cậy là nhân đức siêu nhiên giúp ta trông đợi vững vàng, nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu ta sẽ được Chúa ban ơn đầy đủ để sống xứng đáng là con cái Chúa ở đời này, và đời sau hưởng phúc vô cùng.
263.         Hỏi: Tại sao ta trông cậy Chúa như vậy?
Thưa: Ta trông cậy vào Chúa vì Người là Đấng toàn năng, nhân từ và trung tín vô cùng, hằng giữ lời Người đã hứa.
264.         Hỏi: Những tội nào nghịch cùng đức cậy?
Thưa: Có những tội này:
– Một là quá ỷ lại lòng nhân từ Chúa mà không lo làm lành lánh dữ.
– Hai là cậy vào sức mình thái quá.
– Ba là thất vọng không còn trông cậy vào Chúa nữa.
265.         Hỏi: Khi nào ta cần phải trông cậy vào Chúa?
Thưa: Ta phải trông cậy vào Chúa luôn, nhất là khi bị cám dỗ, thử thách và lúc gặp gian nan, đau khổ, như lời thánh Phêrô dạy rằng: “Anh em hãy trút mọi nỗi lo âu cho Chúa vì Chúa hằng săn sóc anh em”.
266.         Hỏi: Có kinh nào nhắc ta trông cậy vào Chúa không?
Thưa: Có kinh Đức cậy: Lạy Chúa con, con trông cậy vững vàng vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, thì Chúa sẽ ban ơn cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên Thiên đàng xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phúc đời đời, vì Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy, chẳng có lẽ nào sai được. Amen.
ĐỨC MẾN
267.         Hỏi: Đức mến là gì?
Thưa: Đức mến là nhân đức siêu nhiên làm cho ta kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự và thương yêu mọi người như Chúa yêu ta.
268.         Hỏi: Kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự nghĩa là làm sao?
Thưa: Nghĩa là hết lòng yêu mến Đức Chúa Trời hơn tất cả mọi loài mọi vật, và thà mất hết mọi sự chẳng thà lìa bỏ Chúa.
269.         Hỏi: Tại sao ta phải kính mến Đức Chúa Trời?
Thưa: Ta phải kính mến Đức Chúa trời vì Người là Cha nhân từ tốt lành vô cùng, đã thương yêu ta trước và hằng ban ơn cho ta.
270.         Hỏi: Ta phải thương yêu hết mọi người không?
Thưa: Ta phải thương yêu hết mọi người dù kẻ thù nghịch thì ta cũng phải thương yêu nữa, như lời Chúa dạy rằng: “Các con hãy thương yêu kẻ thù nghịch các con.”
271.         Hỏi: Tại sao ta phải thương yêu hết mọi người?
Thưa: Ta phải thương yêu hết mọi người vì ba lẽ này:
– Một là chính Đức Chúa Giêsu đã dạy ta.
– Hai là vì mọi người đều là hình ảnh Đức Chúa Trời và được Đức Giêsu cứu chuộc bằng Máu Thánh Người.
– Ba là vì mọi người đều là con một Cha trên trời và cùng được mời gọi vào hưởng phước đời đời.
272.         Hỏi: Khi nào ta lỗi đức Mến?
Thưa: Mỗi khi ta lỗi lề luật mà xúc phạm đến Chúa hoặc anh em, hay là khi ta thờ ơ lãnh đạm với những đau khổ của người khác thì ta lỗi đức Mến.
273.         Hỏi: Có kinh nào giúp ta thêm lòng mến không?
Thưa: Có kinh đức Mến: Lạy Chúa con, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy.Amen.
BÀI THỨ IV:
TỘI LỖI
274.         Hỏi: Tội lỗi là gì?
Thưa: Tội là sự lìa bỏ Đức Chúa Trời mà theo loài thụ tạo bởi cố tình lỗi luật Chúa hay luật Hội thánh trong tư tưởng, lời nói, việc làm hay là bỏ việc phải làm.
275.         Hỏi: Có mấy thứ tội?
Thưa: Có hai thứ tội: Một là tội trọng, hai là tội nhẹ.
276.         Hỏi: Khi nào ta phạm tội trọng?
Thưa: Ta phạm tội trọng khi cố tình lỗi phạm một điều luật nặng mà ta đã kịp suy biết tỏ tường.
277.         Hỏi: Tội trọng làm hại ta thế nào?
Thưa: Tội trọng làm cho ta mất hết sự sống siêu nhiên, mất hết quyền lợi của người con Chúa, đáng chịu hình phạt đời sau và có khi ở đời này.
278.         Hỏi: Khi lỡ phạm tội trọng thì ta phải làm gì?
Thưa: Ta phải thống hối ăn năn và lo liệu đi xưng tội ngay, lại phải dùng mọi phương thế để khỏi phạm lại nữa.
279.         Hỏi: Khi nào ta phạm tội nhẹ?
Thưa: Ta phạm tội nhẹ khi lỗi phạm một điều luật nhẹ, hoặc một điều nặng mà chưa kịp suy biết rõ ràng hay chưa hoàn toàn ưng theo.
280.         Hỏi: Tội nhẹ có làm hại ta không?
Thưa: Dầu tội nhẹ không làm cho ta mất sự sống siêu nhiên, nhưng làm cho ta bớt lòng mến Chúa, hướng chiều về điều xấu, và dễ phạm tội trọng hơn.
281.         Hỏi: Bị cám dỗ mà thôi đã phạm tội chưa?
Thưa: Bị cám dỗ mà thôi chưa phải là tội, trái lại, nếu ta chống trả mạnh mẽ thì càng có công trước mặt Chúa.
282.         Hỏi: Các tội ta phạm thường do những nết xấu nào?
Thưa: Các tội ta phạm thường do bảy nết xấu, thường quen gọi là bảy mối tội đầu:
– Một là kiêu ngạo.
– Hai là hà tiện.
– Ba là dâm dục.
– Bốn là hờn giận.
– Năm là mê ăn uống.
– Sáu là ghen ghét.
– Bảy là lười biếng
BÀI THỨ V:
ĐIỀU RĂN I
283.         Hỏi: Điều răn thứ nhất dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ nhất dạy ta thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.
284.         Hỏi: Thờ phượng Đức Chúa Trời là gì?
Thưa: Là nhận biết Chúa là Cha đã sáng tạo và giữ gìn ta cùng trời đất muôn vật, nên ta phải hết long thờ kính, mến yêu và phụng sự Người.
285.         Hỏi: Ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời thế nào?
Thưa: Ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời trong long và bề ngoài, cùng tham dự việc thờ phượng chính thức của Hội thánh gọi là Phụng vụ.
286.         Hỏi: Những việc Phụng vụ quan trọng nhất là những việc nào?
Thưa: Là Thánh lễ, các Bí tích và kinh Nhật tụng.
287.         Hỏi: Hằng năm Phụng vụ được tổ chức thế nào?
Thưa: Hằng năm Phụng vụ được tổ chức theo hai mùa chính:
– Một là mùa Giáng Sinh, giúp ta “sống” mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người.
– Hai là mùa Phục Sinh, giúp ta “sống” mầu nhiệm Chúa Giêsu cứu chuộc loài người. Ngoài hai mùa đó, thời gian còn lại được gọi là mùa Quanh năm, Hội thánh dùng thời gian này để giúp ta “sống” các mầu nhiệm ấy cách đầy đủ hơn
288.         Hỏi: Mùa Giáng Sinh có những lễ nào trọng?
Thưa: Mùa Giáng Sinh có hai lễ trọng này: là lễ Giáng Sinh và lễ Hiển Linh, thường gọi là lễ Ba Vua…trước lễ Giáng Sinh có bốn tuần chuan bị tâm hồn giáo hữu, gọi là Mùa Vọng.
289.         Hỏi: Mùa Phục Sinh có những lễ nào trọng?
Thưa: Mùa Phục Sinh có ba lễ trọng này là lễ Phục Sinh, lễ Thăng Thiên và lễ Hiện xuống. Trước lễ Phục Sinh có một thời kỳ chuẩn bị tâm hồn giáo hữu là Mùa Chay.
290.         Hỏi: Ngoài những lễ về Chúa, Hội thánh có mừng lễ nào khác nữa không?
Thưa: Hội thánh còn mừng nhiều lễ kính Đức Mẹ và các Thánh, là những tôi trung của Chúa, hằng nêu gương và cầu khẩn cho ta.
291.         Hỏi: Có những tội nào nghịch cùng điều răn thứ nhất?
Thưa: Có những tội này:
– Một là thờ những loại thụ tạo.
– Hai là mê tín dị đoan.
– Ba là phạm sự thánh.
292.         Hỏi: Tội thờ loài thụ tạo là những tội nào?
Thưa: Là tội thờ ma quỷ, thờ súc vật gỗ đá, mặt trời, mặt trăng, hay bất cứ một loài thụ sinh nào như thờ chính Đức Chúa Trời vậy.
293.         Hỏi: Có được thờ tổ tiên ông bà cha mẹ ta không?
Thưa: Ta phải tôn kính, tỏ lòng hiếu thảo biết ơn như xin lễ, cầu nguyện và giữ những tập tục chính đáng của dân tộc nhưng không được thờ các ngài như thờ Đức Chúa Trời.
294.         Hỏi: Mê tín dị đoan là gì?
Thưa: Là tin cậy vào loại thụ tạo có quyền năng phi thường mà chẳng phải bởi Chúa ban cho như: phù thuỷ bói khoa, hoặc tin chim kêu gà gáy, cùng nhiều điều khác như vậy.
295.         Hỏi: Tội phạm sự thánh là gì?
Thưa: Là tội xúc phạm đến những người, những nơi hay là của gì đã được hiến dâng cho Chúa để làm việc thờ phượng Người, như xúc phạm đến kẻ có chức thánh, nhà thờ hoặc lạm dụng của thánh…




CẦU NGUYỆN.
296.         Hỏi: Cầu nguyện là gì?
Thưa: Cầu nguyện là nâng lòng trí lên cùng Chúa mà thờ lạy, cảm tạ, xin Người tha thứ tội lỗi và ban cho ta các ơn lành hồn xác.
297.         Hỏi: Cầu nguyện có phải là việc cần thiết không?
Thưa: Là việc rất cần thiết vì Chúa dạy ta phải cầu nguyện luôn đừng bao giờ chán. Người còn phán rằng: “Không có Thầy các con không thể làm gì được.”
298.         Hỏi: Ta phải cầu nguyện khi nào?
Thưa: Ta phải siêng năng cầu nguyện, nhất là ban sáng, ban tối, lúc bị cám dỗ. Hay là khi gặp nhiều đau khổ nguy hiểm phần hồn phần xác. Ngoài ra ta phải sống kết hợp với Chúa mọi nơi mọi lúc như lời Thánh Phaolô dạy: “Dù anh em ăn hay uống hay làm gì, anh em hãy làm mọi sự cho sáng danh Chúa.”
299.         Hỏi: Khi cầu nguyện ta phải có thái độ nào?
Thưa: Khi cầu nguyện thì trong lòng ta phải khiêm nhường, tin tưởng và cậy trông, còn bên ngoài thì phải nghiêm trang cung kính.
300.         Hỏi: Có mấy cách cầu nguyện?
Thưa: Có hai cách cầu nguyện:
– Một là đọc kinh ngoài miệng.
– Hai là suy tưởng trong lòng.
301.         Hỏi: Chúa Giêsu có dạy ta cầu nguyện không?
Thưa: Chúa Giêsu có dạy ta kinh lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng nước Cha trị đến ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa trước cám sỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ .Amen.
TÔN KÍNH ĐỨC MẸ VÀ CÁC THÁNH
302.         Hỏi: Ta có được thờ Đức Mẹ Maria không?
Thưa: Ta không được thờ Đức Mẹ Maria vì Người cũng là thụ tạo như ta, nhưng phải đặt biệt tôn kính, vì Người là Mẹ Đức Chúa Trời và là Mẹ ta nữa.
303.         Hỏi: Ta phải tôn kính Thiên thần và các Thánh không?
Thưa: Ta phải tôn kính Thiên thần và các Thánh vì các Ngài là những tôi trung, con thảo của Chúa và có quyền thế cầu bầu cho ta.
304.         Hỏi: Tại sao ta phải kính ảnh tượng Đức Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các Thánh?
Thưa: Vì các ảnh tưởng ấy nhắc ta nhớ đến các Ngài, để ta thêm lòng kính mến và mọi gương lành các Ngài.
305.         Hỏi: Tại sao ta phải tôn kính hài cốt và di tích các Thánh?
Thưa: Ta tôn kính hài cốt và di tích các Thánh, vì là những kỷ niệm của các phần tử ưu tú trong nhiệm thể Chúa Kitô, và vì Chúa thường dùng những di tích ấy mà làm nhiều phép lạ.
306.         Hỏi: Ta phải làm gì để tôn kính Đức Mẹ và các Thánh?
Thưa: Ta có thể làm những việc này:
– Một là yêu mến, cậy trông, cùng năng cầu xin Đức Mẹ và các Thánh.
– Hai là mừng lễ các Ngài cho sốt sắng và làm những việc sùng kính mà Hội thánh khuyên dạy.
– Ba là noi gương nhân đức các Ngài.
BÀI THỨ VI:
ĐIỀU RĂN II
307.         Hỏi: Điều răn thứ hai dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ hai dạy ta tôn kính Tên Chúa và giữ những điều mà ta đã lấy Tên Người mà thề hay là khấn hứa.
308.         Hỏi: Thề là gì?
Thưa: Thề là lấy tên Chúa làm chứng điều ta nói là thật.
309.         Hỏi: Có khi nào ta nên thề không?
Thưa: Khi có việc quan trọng thì ta nên lấy Tên Chúa mà thề, và khi có lệnh chính đáng của Bề Trên thì ta phải thề.
310.         Hỏi: Có khi nào ta thề mà mắc tội không?
Thưa: khi ta thề vô cớ, thề dối thề làm điều xấu hay lấy tên quỷ thần mà thề thì ta mắc tội.
311.         Hỏi: Khấn là gì?
Thưa: Khấn là hứa cùng Chúa sẽ làm một việc lành và có ý buộc mình phải giữ.
312.         Hỏi: Khi không giữ được lời khấn thì phải làm sao?
Thưa: Khi không giữ được lời khấn thì phải xin lỗi Bề Trên hoặc Cha giải tội đổi việc đã khấn hay là chước chuẩn việc ấy cho ta.
BÀI THỨ VII:
ĐIỀU RĂN III
313.         Hỏi: Điều răn thứ ba dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ ba dạy ta thánh hoá ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc.
314.         Hỏi: Ta phải làm gì để thánh hoá những ngày ấy?
Thưa: Ta phải dự thánh lễ, nghỉ việc xác và nên làm thêm việc lành, như đ dư những giờ kinh chung, làm việc bác ái, tông đồ…
315.         Hỏi: Phải dự thánh lễ cách nào cho đúng luật Hội thánh buộc?
Thưa: Phải có lòng tin, và tích cực tham dự thánh lễ từ đầu đến cuối. Vì vậy ai lười biếng, hoặc khinh thường mà bỏ qua một phần quan trọng, thì mắc tội nặng.
316.         Hỏi: Khi có lý do chính đáng mà không dự lễ được thì làm thế nào?
Thưa: Khi có lý do chính đáng mà không dự lễ được thì không có tội gì, nhưng ta nên làm một hai việc lành để thánh hoá ngày ấy.
317.         Hỏi: Nghỉ việc xác là gì?
Thưa: Là không được làm những việc nặng nhọc phần xác, những việc mà thợ thuyền, thương gia, công chức quen để sinh sống, Nhưng khi có lẽ cần hay có phép Bề trên, thì được làm mà không lỗi luật Chúa.
318.         Hỏi: Ở nước ta có bao nhiêu lễ buộc?
Thưa: Hiện nay ngoài các ngày Chúa Nhật chỉ còn một lễ mà thôi là lễ Giáng Sinh.
BÀI THỨ VIII:
ĐIỀU RĂN IV
319.         Hỏi: Điều răn thứ bốn dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ bốn dạy ta phải thảo kính cha mẹ cho trọn đạo hiếu.
320.         Hỏi: Thảo kính cha mẹ là gì?
Thưa: Là kính mến, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời.
321.         Hỏi: Tại sao ta phải thảo kính cha mẹ?
Thưa: Ta phải thảo kính cha mẹ, vì cha mẹ đã có công sinh thành dưỡng dục ta, và thay quyền Chúa để săn sóc ta phần hồn và phần xác.
322.         Hỏi: Khi nào ta phải giúp đỡ cha mẹ?
Thưa: Ta phải giúp đỡ cha mẹ phần hồn phần xác, nhất là lúc nghèo khó, ốm đau. Khi cha mẹ bệnh nặng thì phải săn sóc, lo liệu thốc men và giúp các ngài lãnh các Bí tích, khi qua đời thì lo chôn cất, cầu nguyện cùng xin lễ cho các ngài.
323.         Hỏi: Cha mẹ có bổn phận gì đối với con cái?
Thưa: Cha mẹ có bổn phận nuôi dưỡng, thương yêu, dạy dỗ và làm gương sáng cho con cái noi theo.
324.         Hỏi: Ngoài cha mẹ, ta có bổn phận gì đối với người trong gia tộc?
Thưa: Ta phải kính nể, yêu mến mọi người trong gia tộc, như ông bà, chú bác, cô dì, và anh chị em, cùng giúp đỡ họ tuỳ sức ta.
325.         Hỏi: Ta còn phải kính nể và vâng lời ai nữa không?
Thưa: Ta còn phải kính nể và vâng lời những kẻ có quyền trong đạo ngoài đời như: hàng giáo phẩm, chính quyền, thầy dạy…
326.         Hỏi: Ta có bổn phận gì đối với Tổ quốc không?
Thưa: Đối với Tổ quốc, ta phải tuân hành những luật chính đáng, chu toàn nhiệm công dân và tham gia việc nước để mưu cầu công ích.
327.         Hỏi: Chính quyền có bổn phận gì đối với quốc dân không?
Thưa: Chính quyền có bổn phận giữ trật tự, đảm đương công vụ, tôn trọng những quyền lợi căn bản của công dân, và dùng mọi cách để nâng cao mức sống vật chất, tinh thần của dân chúng…
328.         Hỏi: Thầy dạy có bổn phận gì đối với học trò không?
Thưa: Thầy dạy có bổn phận giáo dục học trò cho nên người thông minh đạo đức, và phải làm gương tốt cho học trò noi theo.
329.         Hỏi: Chủ nhân có bổn phận gì đối với người làm công cho mình không?
Thưa: Chủ nhân phải cư xử nhân đạo, trả lương công bình, lại phải lo liệu cho họ có thì giờ chu toàn bổn phận tôn giáo.
330.         Hỏi: Ta phải có thái độ nào đối với người ngoại quốc?
Thưa: Ta phải coi người ngoại quốc như là anh em, tôn trọng quyền lợi chính đáng của họ và duy trì tình thân hữu giữa các dân tộc với nhau.
BÀI THỨ IX:
ĐIỀU RĂN V
331.         Hỏi: Điều răn thứ năm dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ năm dạy ta tôn trọng, giữ gìn thân xác và mạng sống của ta cũng như của người khác nữa.
332.         Hỏi: Tại sao ta phải tôn trọng, giữ gìn thân xác và mạng sống?
Thưa: Ta phải tôn trọng, giữ gìn thân xác và mạng sống vì mạng sống là một ân huệ Chúa ban và thân xác ta cũng được Chúa cứu chuộc, là đền thờ Chúa Thánh Thần và ngày sau sẽ được sống lại.
333.         Hỏi: Ta phải tôn trọng, giữ gìn thân xác và mạng sống ta thế nào?
Thưa: Ta phải làm việc để nuôi thân, phải săn sóc sức khoẻ và không bao giờ được tự ý giết mình hay liều mạng sống khi không có lý do chính đáng.
334.         Hỏi: Ta phải tôn trọng thân xác và mạng sống người khác như thế nào?
Thưa: Ta không cố tình hay vì khinh thường mà giết người khác, cũng không được đánh hay đả thương người ta trái phép.
335.         Hỏi: Có những trường hợp nào giết người mà không mắc tội không?
Thưa: Có những trường hợp đặc biệt này:
– Một là khi chính quyền xử người gian ác theo luật pháp công minh.
– Hai là khi bênh vực Tổ quốc chống lại kẻ thù.
– Ba là khi kẻ gian ác tấn công mà ta không còn cách nào khác để bảo vệ mạng sống.
336.         Hỏi: Điều răn thứ năm còn cấm điều gì nữa không?
Thưa: Điều răn thứ năm còn cấm giận hờn, ghen ghét, oán thù, chửi rủa, hay là xúi giục kẻ khác làm hại người ta hoặc làm gương xấu sinh dịp tội cho người khác.
BÀI THỨ X:
ĐIỀU RĂN VI VÀ IX
337.         Hỏi: Điều răn thứ sáu và thứ chín dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ sáu và thứ chín dạy ta giữ đức trong sạch trong tư tưởng, lời nói và việc làm.
338.         Hỏi: Tại sao ta phải giữ đức trong sạch?
Thưa: Ta phải giữ đức trong sạch vì ta đã được tạo thành giống hình ảnh Chúa, vì ta là chi thể mầu nhiệm Chúa Kitô, và thân xác ta là đền thờ Chúa Thánh Thần.
339.         Hỏi: Điều răn thứ sáu cấm những sự gì?
Thưa: Điều răn thứ sáu cấm những tội dâm dục bề ngoài, như nói năng, nhìn xem hay làm những điều ô uế tục tỉu…
340.         Hỏi: Điều răn thứ chín cấm những sự gì?
Thưa: Điều răn thứ chín cấm những tư tưởng, ước muốn nghịch đức trong sạch.
341.         Hỏi: Kẻ đã lập gia đình có phải giữ đức trong sạch không?
Thưa: Kẻ đã lập gia đình phải giữ đức trong sạch theo như luật Chúa và Hội thánh dạy.
342.         Hỏi: Có những tư tưởng, hình ảnh ô uế trong trí mà thôi đã phải là tội chưa?
Thưa: Chưa phải là tội nếu ta không chịu ưng theo. Trái lại, nếu ta chống trả mau mắn thì càng có công trước mặt Chúa.
343.         Hỏi: Ta phải làm gì để giữ đức trong sạch?
Thưa: Ta phải làm những sự này
– Một là phải thực hiện tinh thần công bằng bác ái đối với mọi người.
– Hai là phải năng cầu nguyện và lãnh nhận các Bí tích.
– Ba là phải tránh dịp tội cho mình và cho kẻ khác.
344.         Hỏi: Có những dịp tội nào thường làm ta lỗi đức trong sạch?
Thưa: Có những dịp này:
– Một là làm biếng không làm việc.
– Hai là bạn bè cùng kẻ xấu nết.
– Ba là xem sách báo, phim ảnh dâm ô.
– Bốn là trai gái giao thiêp mất nết.
– Năm là ăn uống say sưa quá độ.
345.         Hỏi: Khi bị cám dỗ ta phải chống trả thế nào?
Thưa: Ta phải kêu xin Chúa và Đức Mẹ giúp đỡ, rồi tưởng nhớ đến việc khác và tránh ngay dịp tội.
346.         Hỏi: Tội dâm ô có phải tội trọng hay không?
Thưa: Là tội nặng vì làm cho ta mất phúc đời đời, như lời thánh Phaolô nói rằng: “Kẻ gian dâm ô uế… thì chẳng được dự phần trong nước Chúa Kitô và nước Đức Chúa trời”.
Vả lại tội phạm hai điều răn này thường làm cho ta chìm đắm trong tội lỗi và chán ngán những việc đạo đức.
BÀI THỨ XI:
ĐIỀU RĂN VII VÀ X
347.         Hỏi: Điều răn thứ bảy và thứ mười dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ bảy và thứ mười dạy ta giữ đức công bình và tôn trọng của cải người khác.
348.         Hỏi: Điều răn thứ bảy và thứ mười cấm ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ bảy cấm ta lấy hay giữ của người trái phép công bình và làm hư hại của cải kẻ khác. Còn điều răn thứ mười cấm tham lam mơ ước của người khác.
349.         Hỏi: Tội lấy của người khác cách bất công là những tội nào?
Thưa: Là những tội này:
– Một là trộm cướp.
– Hai là gian lận.
– Ba là cho vay ăn lời quá đáng.
– Bốn là nhận của hối lộ hay tham lam của công.
350.         Hỏi: Tội giữ của người bất công là những tội nào?
Thưa: Là những tội này:
– Một là không trả nợ.
– Hai là không hoàn của đã mượn hay lượm được.
– Ba là không trả tiền công xứng đáng.
– Bốn là trốn thuế.
– Năm là tàng trữ của gian.
351.         Hỏi: Kẻ đã lấy hay giữ của người ta cách bất công thì phải làm thế nào?
Thưa: Phải lo trả lại cho sớm và kẻ đã làm hư hại của người khác thì phải đền bồi cho cân xứng.
352.         Hỏi: Phải đền trả cho ai?
Thưa: Phải đền trả cho chủ, nếu kẻ đã chết hay biệt tích , thì phải đền trả cho con cháu hay người thừa kế, nếu không biết đền trả cho ai thì phải dùng của ấy vào công việc bác ái.
BÀI THỨ XII:
ĐIỀU RĂN VIII
353.         Hỏi: Điều răn thứ tám dạy ta sự gì?
Thưa: Điều răn thứ tám dạy ta tôn trọng sự thật và danh giá kẻ khác.
354.         Hỏi: Tôn trọng sự thật là thế nào?
Thưa: Là giữ sự thật trong tư tưởng, lời nói và việc làm.
355.         Hỏi: Tại sao ta phải tôn trọng sự thật?
Thưa: Ta phải tôn trọng sự thật vì những lẽ này:
– Một là Đức Chúa Trời là Đấng chân thật vô cùng. Ngài thấu suốt mọi sự và dạy ta phải thành thật.
– Hai là vì sự thành thật rất cần cho đời sống chung.
356.         Hỏi: Ta phải tôn trọng danh giá người khác như thế nào?
Thưa: Ta phải nghĩ tốt cho mọi người, không nên nói xấu ai, và khi không có luật lệ hay công ích đòi buộc, thì không được tố cáo điều lỗi người khác.
357.         Hỏi: Điều răn thứ tám cấm ta những sự gì?
Thưa: Điều răn thứ tám cấm nói dối, làm chứng gian, cấm tiết lộ những điều cần phải giữ kín và cấm làm hại danh giá người ta.
358.         Hỏi: Có bao giờ được phép nói dối không?
Thưa: Không bao giờ được phép nói dối, dù để chữa mình hay bênh vực người khác.
359.         Hỏi: Ta có được phép tiết lộ những điều phải giữ kín không?
Thưa: Không được, trừ khi người có điều kín cho phép thì ta nói ra, hay là khi ích chung quan trọng bắt buộc ta phải nói.
360.         Hỏi: Khi nào ta làm hại danh giá người khác?
Thưa: Khi ta vu khống, nói hành, hoặc hồ nghi điều xấu cho người khác mà không có đủ lẽ.
361.         Hỏi: Kẻ làm hại danh giá người ta có phải đền trả không?
Thưa: Ta phải đền trả tiếng tốt và danh giá cho người ta, và nếu có gây thiệt hại vật chất thì cũng phải bồi thường nữa.
BÀI THỨ XIII:
SÁU ĐIỀU RĂN HỘI THÁNH:
362.         Hỏi: Hội thánh có mấy điều răn?
Thưa: Hội thánh có sáu điều răn:
– Thứ nhất: Xem lễ ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc.
– Thứ hai: Chớ làm việc xác ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc.
– Thứ ba: Xưng tội trong một năm ít nhất là một lần.
– Thứ tư: Chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh.
– Thứ năm: Giữ chay những ngày Hội thánh buộc.
– Thứ sáu: Kiêng thịt ngày thứ sáu cùng những ngày Hội thánh dạy.
363.         Hỏi: Điều răn Hội thánh buộc những ai?
Thưa: Buộc tất cả những người đã gia nhập Hội thánh và đã đến tuổi luật định.
364.         Hỏi: Điều răn thứ nhất và thứ hai Hội thánh dạy ta sự gì?
Thưa: Hội thánh dạy ta dự lễ cùng kiêng việc xác ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc.
365.         Hỏi: Điều răn thứ ba Hội thánh dạy ta sự gì?
Thưa: Hội thánh dạy ta mỗi năm phải xưng tội ít nhất là một lần. Nhưng Hội thánh ước ao cho ta xưng tội nhiều lần hơn, nhất là mỗi khi mắc tội trọng.
366.         Hỏi: Hội Thánh có buộc phải xưng tội vào thời kỳ nào nhất định không?
Thưa: Không, nhưng để tiện giữ luật rước lễ mùa Phục Sinh thì nên xưng tội vào mùa ấy. Nếu mùa Phục Sinh không xưng tội được, thì luật Hội Thánh vẫn buộc xưng tội bất cứ lúc nào trong năm.
367.         Hỏi: Điều răn thứ bốn Hội thánh dạy ta sự gì?
Thưa: Hội thánh dạy ta mỗi năm phải rước lễ một lần trong mùa Phục Sinh. Ở Việt Nam, thời gian để rước lễ là mùa Phục sinh kể từ thứ tư lễ Tro đến lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống.
368.         Hỏi: Điều răn thứ năm Hội thánh dạy ta sự gì?
Thưa: Hội thánh dạy ta từ 21 tuổi chẳn đến 60 tuổi phải giữ chay những ngày Hội thánh chỉ định.
369.         Hỏi: Giữ chay là làm sao?
Thưa: Giữ chay là ngày hôm ấy chỉ định được ăn một bữa no mà thôi, lấy bữa trưa làm bữa chính, thì sáng tối cũng được ăn đôi chút theo thói quen.
370.         Hỏi: Điều răn thứ sáu Hội thánh dạy ta sự gì?
Thưa: Hội thánh dạy ta từ 14 tuổi chẵn trở lên phải kiêng thịt các ngày luật định.
371.         Hỏi: Tại sao Hội thánh lập luật kiêng thịt, giữ chay?
Thưa: Hội thánh có ý cho ta hy sinh đền tội, noi gương Chúa Giêsu, nhưng luật này không buộc người đau yếu, già nua, những người làm việc cực nhọc, hay phải đi đường xa xôi.
372.         Hỏi: Ngoài sáu điều răn ấy, Hội thánh còn có luật nào nữa không?
Thưa: Hội thánh có nhiều luật lệ trong bộ Giáo luật và nhiều văn kiện khác nhau, những luật về Phụng vụ, Bí tích, về giáo sĩ, giáo dân và các dòng tu nam nữ


Đọc tiếp »

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

Đàng Thánh Giá với Đức Thánh Cha 2020




SUY NIỆM ĐÀNG THÁNH GIÁ
VỚI ĐỨC THÁNH CHA
THỨ SÁU TUẦN THÁNH
10-04-2020





Giới thiệu

Các bài suy niệm Đàng Thánh Giá năm nay được văn phòng tuyên úy nhà tù “Due Palazzi” ở thành phố Padova biên soạn. Đón nhận lời mời của Đức Thánh Cha Phanxicô, 14 người đã suy niệm về cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta bằng cách tái hiện nó trong cuộc sống của họ. Trong số này có 5 tù nhân, một gia đình nạn nhân của một vụ giết người, con gái của một tù nhân bị kết án chung thân, một nữ giáo viên của nhà tù, một người giám thị, một bà mẹ của một tù nhân, một giáo lý viên, một tu huynh tình nguyện viên, một nhân viên cảnh sát nhà tù và một linh mục bị tố cáo và sau 8 năm xét xử đã được tuyên bố vô tội hoàn toàn.
Đồng hành cùng Chúa Kitô trên con đường Thánh Giá, với giọng khàn khàn của những người sống trong thế giới của các nhà tù, là một cơ hội để chứng kiến cuộc song đấu phi thường giữa Sự Sống và Cái Chết, và khám phá ra những điều tốt nhất xen lẫn với những điều xấu. Chiêm ngắm đồi Canvê từ phía sau những song sắt là tin rằng toàn bộ cuộc sống có thể được quyết định chỉ trong khoảnh khắc, như đã xảy ra với người trộm lành. Chỉ cần lấp đầy những khoảnh khắc đó bằng sự thật: ăn năn thống hối về tội lỗi đã phạm, xác tín rằng sự chết không phải là mãi mãi, tin chắc rằng Chúa Kitô là người vô tội đã bị chế giễu cách bất công. Mọi sự đều có thể đối với những người tin, bởi vì ngay cả trong bóng tối của nhà tù vẫn vang lên lời loan báo tràn đầy hy vọng: “Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể được” (Lc 1,37). Nếu có ai đó nắm lấy tay họ, thì cho dù  là người có thể phạm tội khủng khiếp nhất, họ vẫn có thể trở thành người được hồi sinh bất ngờ nhất. Chắc chắn là ngay cả khi kể về sự ác và đau khổ, người ta vẫn có thể dành chỗ cho ơn cứu độ khi nhận ra rằng giữa sự ác vẫn có hoạt động của sự thiện, và dành chỗ cho sự thiện (x. Sứ điệp của ĐTC nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm 2020).
Các bản văn mà cha tuyên úy Marco Pozza và tình nguyện viên Tatiana Mario đã thu thập lại được chính các nhân chứng viết, nhưng họ quyết định không ghi tên: người đã tham dự vào bài suy niệm này muốn nói thay cho tất cả những người trên thế giới đang chia sẻ cùng số phận. Chiều nay, trong sự thinh lặng của các nhà tù, tiếng nói của một người mong ước trở thành tiếng nói của tất cả mọi người.
(Nguồn: Vatican News Tiếng Việt)





Lời khởi nguyện

Chúng con hiệp ý với Đức Thánh Cha đi chặng đàng Thánh Giá này cầu xin Chúa thương đến tất cả những tù nhân trên khắp thế giới. Xin Chúa thương xót chữa lành nhưng vết thương tâm hồn của họ và cho họ cơ hội để hoán cải , để làm lại cuộc đời và đón nhận ơn cứu độ của Chúa. Amen.



Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng, qua Chúa Giêsu Kitô Con Chúa, Chúa đã mang lấy các vết thương và thống khổ của nhân loại. Hôm nay con có can đảm cầu xin Chúa, như người trộm đã hối cải: “Xin nhớ đến con!”
Con ở đây, trước nhan Chúa, trong bóng tối của nhà tù này, nghèo hèn, trần trụi, đói khổ và bị khinh khi, và con cầu xin Chúa đổ dầu tha thứ và an ủi trên các vết thương của con, và đổ rượu của tình huynh đệ củng cố trái tim.
Xin chữa lành con bằng ân sủng của Chúa và xin dạy con biết hy vọng trong thất vọng. Lạy Chúa và Thiên Chúa của con, con tin, xin giúp con trong khi con cứng lòng tin.
Lạy Cha thương xót, xin tiếp tục tin tưởng con, xin ban cho con một cơ hội luôn mới mẻ, xin ôm lấy con trong tình yêu vô bờ bến của Cha. Với sự trợ giúp của Cha và ơn của Chúa Thánh Thần, con cũng sẽ có thể nhận ra Cha và phục vụ Cha trong các anh em của con. Amen.


- Đoàn rước Thánh Giá tiến đến chặng thứ nhất.
- Hát: Con đường Chúa đã đi qua
- L.m. Chủ Tế xông hương trước mỗi chặng

Chặng thứ I: Chúa Giêsu bị kết án tử hình

(Suy niệm của một tù nhân bị kết án tù chung thân)

Trích Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 23,20-25)

Ông Philatô muốn thả Đức Giêsu, nên lại lên tiếng một lần nữa. Nhưng họ cứ một mực la lớn: “Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá!” Lần thứ ba, ông Philatô nói với họ: “Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết. Vậy ta sẽ cho đánh đòn rồi thả ra.” Nhưng họ cứ la to hơn, nhất định đòi phải đóng đinh Người. Và tiếng la càng thêm dữ dội. Ông Philatô quyết định chấp thuận điều họ yêu cầu. Ông phóng thích người tù họ xin tha, tức là tên bị tống ngục vì tội bạo động và giết người. Còn Đức Giêsu thì ông trao nộp theo ý họ muốn.
Nhiều lần, tại các tòa án và trên báo chí, tiếng la hét đó: “Đóng đinh nó vào thập giá!” ào ào đổ xuống. Đó là tiếng thét gào mà tôi đã nghe đổ xuống trên tôi: tôi đã bị kết án chung thân, cùng với cha tôi. Tôi đã bắt đầu bị đóng đinh từ khi còn là một đứa bé: nếu nghĩ về nó, tôi nhìn thấy lại cảnh mình cuộn tròn trên chiếc xe buýt đưa tôi đến trường, bị gạt ra ngoài vì nói lắp, không có mối quan hệ nào. Tôi đã bắt đầu lao động từ khi còn nhỏ, không được học hành: sự dốt nát đã chiến thắng sự ngây thơ của tôi. Sau đó, tình trạng bị bắt nạt đã cướp mất những ánh sáng ít ỏi trong thời thơ ấu của đứa trẻ chào đời ở Calabria vào những năm 1970. Tôi trông giống như tên cướp Baraba hơn là giống Chúa Kitô, nhưng sự lên án dữ dội nhất vẫn là từ lương tâm của tôi: ban đêm tôi mở đôi mắt và tìm kiếm trong tuyệt vọng một ánh sáng chiếu sáng lịch sử đời tôi.
Khi bị nhốt trong phòng giam, tôi đọc lại các trang về cuộc Thương Khó của Chúa Kitô, tôi òa khóc: sau 29 năm ở tù, tôi vẫn chưa mất đi khả năng khóc, chưa mất đi khả năng xấu hổ về quá khứ của mình, về điều ác mà tôi đã phạm. Tôi cảm thấy mình là Baraba, là Phêrô và Giuđa trong cùng một con người duy nhất của tôi. Quá khứ là điều gì đó mà tôi cảm thấy kinh tởm dẫu biết rằng đó là lịch sử đời tôi. Tôi đã sống nhiều năm trong nhà tù cực kỳ nghiêm khắc theo điều luật 41-bis và cha tôi đã chết khi bị giam trong cùng một điều kiện như tôi. Nhiều lần, vào ban đêm, tôi nghe thấy ông khóc trong phòng giam. Ông che dấu điều đó nhưng tôi nhận ra nó. Cả hai chúng tôi đều chìm trong bóng tối cùng tận. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh không có sự sống này, tôi luôn tìm kiếm điều gì đó có thể là sự sống: thật là lạ khi nói điều này, nhưng nhà tù là sự cứu rỗi của tôi. Nếu đối với ai đó tôi vẫn là Baraba, tôi không tức giận: trong lòng mình tôi cảm thấy rằng Con Người vô tội đó, bị kết án như tôi, đã đến tìm tôi trong nhà tù để dạy tôi về sự sống.
Lạy Chúa Giêsu, mặc cho những tiếng gào thét dữ dội làm chúng con ngoảnh mặt đi,chúng con vẫn thấy Chúa giữa đám đông những người gào thét muốn Chúa phải bị đóng đinh; và có lẽ chúng con cũng nằm trong số đó, không ý thức về sự dữ mà chúng con có thể phạm. Từ các phòng giam của chúng con, chúng con muốn cầu nguyện với Chúa Cha cho những người bị kết án tử hình như Chúa và cho những người vẫn muốn thay thế quyền xét xử tối cao của Chúa.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Thiên Chúa, Đấng yêu quý sự sống, trong bí tích hòa giảiChúaluôn ban cho chúng con cơ hội mới để thưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa, chúng con xin Chúa đổ tràn ơn khôn ngoan cho chúng con để nhìn mỗi người nam, người nữ như đền thờ của Chúa Thánh Thần và tôn trọng họ trong phẩm giá bất khả xâm phạm. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.
Chủ sự: Lạy Chúa, xin thương xót chúng chúng con
: Xin Chúa thương xót chúng con
Hát: (Khi di chuyển đến chặng thứ hai)
Chủ sự Chúng con kính lạy và ngợi khen Chúa Giêsu Kitô. Đáp: Vì Chúa đã dùng cây Thánh giá Chúa mà chuộc tội cho Thiên hạ.

Chặng thứ II: Chúa Giêsu vác Thánh giá

(Suy niệm của đôi vợ chồng có con gái bị sát hại)

Trích Tin Mừng theo thánh Marco (15,16-20)

Lính điệu Đức Giêsu vào bên trong công trường, tức là dinh tổng trấn, và tập trung cả cơ đội lại. Chúng khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng bái chào Người: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái!” Chúng lấy cây sậy đập lên đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lạy. Chế giễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Người mặc áo lại như trước. Sau đó, chúng dẫn Người đi để đóng đinh vào thập giá.
Vào mùa hè khủng khiếp đó, cuộc sống của người cha người mẹ như chúng tôi đã chết cùng với cái chết của hai đứa con gái. Một đứa bị sát hại cùng với người yêu bởi bạo lực mù quáng của một người không có lòng thương xót; đứa kia, nhờ phép lạ, đã sống sót, nhưng vĩnh viễn không còn nở nụ cười. Cuộc sống của chúng tôi là một cuộc đời hy sinh, đặt nền tảng trên công việc và gia đình. Chúng tôi đã dạy các con của mình tôn trọng người khác và giá trị của việc phục vụ những người nghèo khổ nhất. Chúng tôi thường tự nhủ: “Tại sao sự ác vùi dập này lại xảy ra với chúng tôi?” Chúng tôi không tìm được bình an. Ngay cả công lý mà chúng tôi luôn tin tưởng cũng không thể xoa dịu vết thương sâu thẳm nhất: nỗi đau của chúng tôi sẽ còn mãi cho đến cuối đời.
Thời gian không làm cho gánh nặng của thập giá mà chúng tôi đã vác trên vai được nhẹ đi: chúng tôi không thể quên người mà bây giờ không còn nữa. Chúng tôi đã già, luôn là những người thiếu tự vệ nhất, và chúng tôi là nạn nhân của nỗi đau tồi tệ nhất trên đời: sống sót sau cái chết của con gái.
Thật khó để diễn tả, nhưng trong thời khắc mà nỗi tuyệt vọng dường như áp đảo, Chúa đã đến gặp chúng tôi, với những cách thế khác nhau, khi ban cho chúng tôi ơn yêu thương nhau như vợ chồng, nâng đỡ nhau dù mệt mỏi. Ngài mời gọi chúng tôi mở cửa nhà mình cho những người yếu đuối nhất, cho người thất vọng, đón tiếp người đến gõ cửa thậm chí là chỉ xin một bát súp. Làm việc bác ái, giới răn của chúng ta, đối với chúng tôi là một hình thức cứu độ: chúng tôi không muốn đầu hàng sự ác. Thật sự là tình yêu Thiên Chúa có khả năng tái sinh sự sống, bởi vì, trước chúng ta, Chúa Giêsu Con Thiên Chúa đã nếm trải nỗi đau con người để có thể cảm được lòng cảm thương thực sự.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm thấy rất đau khổ khi nhìn thấy Chúa bị đánh đập, sỉ nhục và lột trần, nạn nhân vô tội của sự cứng tin vô nhân đạo. Trong đêm đau khổ này, chúng con dâng lên Chúa Cha những lời cầu xin để phó thác cho Người tất cả những người gánh chịu bạo lực và tội lỗi.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Thiên Chúa, là công lý và ơn cứu độ của chúng con, Đấng ban cho chúng con người Con độc nhất của Chúa khi tôn vinh Ngài trên ngai Thánh giá, xin đổ tràn tâm hồn chúng con niềm hy vọng của Chúa để nhận ra Chúa hiện diện trong những giờ phút đen tối của cuộc sống chúng con. Xin an ủi chúng con trong mọi phiền não và nâng đỡ chúng con trong thử thách, khi chờ đợi Nước Chúa hiển trị. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ III: Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất

(Suy niệm của một tù nhân)

Trích sách Ngôn sứ Isaia (53,4-6)

Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta.
Đó là lần thứ nhất tôi vấp ngã, nhưng lần vấp ngã đó đối với tôi chính là cái chết: tôi đã cướp đi sự sống của một người. Chỉ cần một ngày là đủ đi từ một cuộc sống không thể chê trách đến thực hiện một việc làm vi phạm đến mọi giới răn. Tôi thấy mình là hình ảnh hiện đại của người trộm đã cầu xin Chúa Kitô: “Xin nhớ đến tôi!”. Còn hơn là thống hối, tôi tưởng tượng anh ta như một người ý thức mình đi trên con đường sai trái. Tôi nhớ về tuổi thơ của mình với môi trường lạnh lẽo và thù oán nơi tôi lớn lên: chỉ cần tìm thấy sự mỏng manh yếu đuối của người khác là đủ để biến nó thành trò chơi giải trí. Tôi đã tìm những người bạn chân thành, tôi đã muốn được chấp nhận như tôi là, nhưng không thành công. Tôi đau khổ vì hạnh phúc của người khác, tôi cảm thấy những cây gậy thọc giữa bánh xe, họ chỉ yêu cầu tôi hy sinh và tuân giữ các quy tắc: tôi cảm thấy mình là người lạ đối với tất cả và tôi đã cố gắng trả thù bằng mọi giá.
Tôi đã không nhận thấy rằng sự ác từ từ lớn lên trong tâm hồn tôi. Cho đến một buổi chiều, giờ đen tối của tôi đã đến: trong một khoảnh khắc, như một trận tuyết lở, tôi nhớ lại tất cả những bất công mà tôi đã phải chịu trong cuộc sống. Sự giận dữ đã giết chết sự dịu dàng, tôi đã phạm một tội ác lớn hơn rất nhiều tất cả những gì tôi đã nhận được. Sau đó, trong nhà tù, sự lăng mạ của những người khác đã trở thành điều sỉ nhục đối với chính tôi: chỉ cần một chút xíu nữa là tôi kết thúc cuộc đời, tôi không thể chịu nỗi nữa. Tôi cũng đã đưa cả gia đình tôi đến bờ vực thẳm: vì tôi, họ mất tiếng tăm, danh dự, họ trở thành gia đình của tên sát nhân. Tôi không tìm cách bào chữa hay xin giảm tội, tôi sẽ hoàn thành án của tôi cho đến ngày cuối cùng bởi vì ở trong tù tôi đã tìm thấy những người giúp tôi khôi phục lại niềm tin đã bị mất.
Việc không nghĩ rằng trên thế gian tồn tại điều tốt chính là sự vấp ngã đầu tiên của tôi. Vấp ngã thứ hai, tội giết người, hầu như là hậu quả: tôi đã chết từ trong tâm hồn.
Lạy Chúa Giêsu, cả Chúa cũng đã chết trên thế gian. Lần đầu tiên có lẽ là lần khó khăn nhất bởi vì tất cả đều mới mẻ: cú đánh quá mạnh và hoang mang bối rối chế ngự. Chúng con phó thác cho Chúa Cha những người đang đóng mình với những lý luận riêng của họ và không thể nhận ra những tội lỗi đã phạm.
Chúng ta cùng cầu nguyện
Lạy Thiên Chúa, Chúa đã nâng con người vấp ngã đứng lên, chúng con cầu xin Chúa: xin đến trợ giúp sự yếu đuối của chúng con và ban cho chúng con đôi mắt để chiêm ngắm những dấu chỉ của tình yêu Chúa được gieo vãi trong cuộc sống hàng ngày của chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con.

Chặng thứ IV: Chúa Giêsu gặp Đức Mẹ

(Suy niệm của một người mẹ có con bị tù)

Trích Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 19, 25-27)

Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà’. Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.
Với việc con trai bị kết án, tôi không có một chút mảy may cám dỗ từ bỏ con mình. Vào ngày con tôi bị bắt, tất cả cuộc sống chúng tôi đã thay đổi: cả gia đình vào tù cùng con. Ngay cả hôm nay, sự phán xét của mọi người vẫn không dịu lại, đó là một lưỡi dao sắc: những ngón tay chỉ thẳng vào tất cả chúng tôi làm đè nặng thêm những đau khổ mà chúng tôi đã mang trong tâm hồn. Các vết thương lớn dần theo từng ngày, thậm chí lấy đi hơi thở của chúng tôi.
Tôi cảm thấy sự gần gũi của Đức Mẹ: Mẹ giúp tôi không bị đè bẹp bởi tuyệt vọng, Mẹ giúp tôi chịu đựng những điều xấu. Tôi trao phó con trai cho Mẹ: chỉ với Mẹ Maria tôi mới có thể thổ lộ nỗi sợ hãi của tôi, tôi đã thấy chính Mẹ đã trải nghiệm những đau khổ này trong lúc Mẹ đi lên núi Sọ. Trong thâm tâm, Mẹ biết Con Mẹ sẽ không thoát khỏi sự xấu xa của con người, nhưng Mẹ không từ bỏ Con Mẹ. Mẹ ở đó, chia sẻ nỗi đau, đồng hành với Chúa Giêsu bằng sự hiện diện. Tôi tưởng tượng khi đó Chúa Giêsu ngước nhìn lên, bắt gặp đôi mắt đầy tình yêu của Mẹ và không bao giờ cảm thấy cô đơn.
Tôi cũng muốn làm như vậy.
Tôi xin nhận lỗi cho con tôi, tôi cũng xin tha thứ cho trách nhiệm của tôi. Tôi khẩn nài lòng thương xót trên tôi, điều mà chỉ một người mẹ mới có thể cảm nhận được, để con trai tôi có thể trở lại cuộc sống bình thường sau khi mãn hạn tù. Tôi tiếp tục cầu nguyện cho con trai tôi để ngày qua ngày, con tôi có thể trở thành một người khác, một lần nữa có khả năng yêu thương chính mình và người khác.
Lạy Chúa Giêsu, cuộc gặp gỡ với Mẹ Chúa, trên đường Thánh giá, có lẽ là cảm động và đau đớn nhất. Giữa cái nhìn của Mẹ và của Chúa, chúng con xin đặt tất cả người thân trong gia đình và bạn bè, những người cảm thấy xót xa và bất lực trước số phận của những người thân yêu.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo hội, người môn đệ trung tín của Con Mẹ, chúng con hướng về Mẹ, để phó thác nơi Mẹ ánh mắt ân cần và sự chăm sóc mẫu tử của Mẹ, để phó thác nơi Mẹ tiếng kêu của nhân loại đang rên rỉ và đau khổ chờ mong ngày nước mắt trên từng khuôn mặt sẽ được lau khô. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ V: Ông Simôn vác Thánh Giá đỡ Chúa Giêsu

 (Suy niệm của một tù nhân )

Trích Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 23,26)

Khi điệu Đức Giêsu đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Simôn, gốc Kyrênê, đặt thập giá lên vai cho ông vác theo sau Đức Giêsu.
Với nghề của tôi, tôi đã giúp các thế hệ trẻ em sống ngay thẳng. Rồi một hôm, tôi đã sa ngã. Như thể người ta đã đánh gẫy lưng của tôi: việc làm của tôi khiến tôi bị lên án nhục nhã. Tôi bị vào tù: ngục tù đã vào tận nhà tôi. Từ đó tôi trở thành một người đi hoang trong thành phố: tôi đã mất tên, họ gọi tôi với tội danh mà công lý đã buộc tội tôi. Tôi không còn là người chủ cuộc đời mình nữa. Khi tôi nghĩ đến hình ảnh đứa trẻ với đôi giày bị rách, đôi chân bị ướt, quần áo cũ kỷ: đó chính là tôi, có một thời tôi là đứa trẻ như thế. Rồi một ngày, ngày tôi bị bắt giam: ba người đàn ông mặc đồng phục, một thể thức cứng rắn và nhà tù nuốt chửng tôi vào trong bức tường.
Thập giá họ đặt trên vai tôi thật nặng. Với thời gian, tôi đã học cách sống chung với nó, nhìn trực tiếp vào thập giá và đặt tên cho nó: tôi và nó trải qua nhiều đêm trọn đồng hành với nhau. Trong các nhà tù, tất cả đều biết Simon xứ Kyrênê: đó là tên chỉ những người thiện nguyện, của người leo lên đồi Canvê này để giúp vác đỡ thập giá; đó là những người khước từ luật lệ băng đảng để lắng nghe lương tâm. Rồi Simon xứ Kyrênê là người ở cùng phòng giam với tôi: tôi đã biết ông trong đêm đầu tiên ở nhà tù. Đó là một người đã từng sống nhiều năm trên một băng ghế, chẳng được tình thương cũng chẳng có lợi tức. Của cải duy nhất của ông bấy giờ là hộp bánh ngọt. Ông vốn là người thích ăn đồ ngọt, nhưng vẫn nài nỉ để tôi mang hộp bánh ngọt ấy cho vợ tôi lần đầu tiên khi cô ấy đến thăm tôi: cô ấy đã bật khóc vì cử chỉ bất ngờ rất ân cần như thế.
Tôi đang già đi trong tù: tôi mơ ước trở về một ngày mà tôi có thể tin tưởng vào con người. Trở thành một người Kyrênê mang lại niềm vui cho một ai đó.
Lạy Chúa Giêsu, từ lúc Chúa được sinh ra cho đến khi gặp một người không quen biết giúp Chúa vác đỡ Thánh Giá, Chúa đã muốn cần sự giúp đỡ của chúng con. Như người Kyrênê, chúng con cũng muốn trở thành người thân cận của anh chị em chúng con và cộng tác với lòng thương xót Chúa Cha để làm nhẹ bớt ách sự dữ đang đè nặng trên anh chị em chúng con.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Thiên Chúa, Đấng bảo vệ những người nghèo và là Đấng an ủi những người khốn cùng, cùng với sự hiện diện của Chúa, xin ban sức mạnh cho chúng con và xin giúp chúng con mỗi ngày mang lấy ách ngọt ngào của giới răn yêu thương của Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ VI: Bà Vêronica lau mặt Chúa Giêsu

(Suy niệm của một giáo lý viên của giáo xứ)

Trích Thánh vịnh (Tv 27, 8-9)

Nghĩ về Ngài, lòng con tự nhủ: hãy tìm kiếm Thánh Nhan.
Lạy Chúa, con tìm thánh nhan Ngài, xin Ngài đừng ẩn mặt.
Tôi tớ Ngài đây, xin đừng giận mà ruồng rẫy, chính Ngài là Đấng phù trợ con.Xin chớ bỏ rơi, xin đừng xua đuổi, lạy Thiên Chúa, Đấng cứu độ con”.

Là một giáo lý viên, tôi đã lau khô biết bao nước mắt tuôn trào. Những dòng nước mắt không thể ngăn lại từ những con tim đã bị tan vỡ. Rất nhiều lần tôi đã gặp những con người tuyệt vọng, mà trong bóng tối của nhà tù, họ tìm lý do cho sự ác dường như vô tận của họ. Những giọt nước mắt này có vị của thất bại và cô đơn, của hối hận và thiếu cảm thông. Tôi thường tưởng tượng nếu Chúa Giêsu ở vị trí của tôi nơi nhà tù thì Chúa sẽ lau những dòng nước mắt đó như thế nào? Chúa sẽ xoa dịu nỗi buồn phiền cho các tù nhân này như thế nào, những người không tìm được một lối thoát cho điều khiến họ phải đầu hàng trước sự ác?
Tìm một câu trả lời là một bài tập khó khăn, thường không thể hiểu được đối với lý luận nhỏ bé và giới hạn của chúng tôi. Con đường Chúa gợi ý cho tôi là không sợ hãi khi chiêm ngắm những khuôn mặt bị biến dạng do đau khổ. Tôi được mời gọi ở lại đó, bên cạnh, tôn trọng sự thinh lặng của họ, lắng nghe nỗi đau, và cố gắng có cái nhìn vượt lên định kiến, như Chúa Giêsu nhìn sự mỏng manh yếu đuối và giới hạn của chúng ta bằng đôi mắt đầy yêu thương. Mỗi người, ngay cả với các tù nhân, mỗi ngày có cơ hội để trở thành những con người mới nhờ những cái nhìn không xét đoán, nhưng mang lại sự sống và niềm hy vọng.
Và bằng cách này những giọt nước mắt rơi xuống có thể trở nên hạt mầm của một vẻ đẹp, là điều thật khó tưởng tượng.
Lạy Chúa Giêsu, bà Vêrônica đã tỏ lòng trắc ẩn với Chúa. Bà đã gặp một người đau khổ và đã phát hiện ra khuôn mặt Chúa. Chúng con xin phó thác những người nam và nữ của thời đại chúng con cho Chúa Cha, để họ tiếp tục lau khô những giọt nước mắt cho anh chị em chúng con.

Chúng ta cùng cầu nguyện                         

Lạy Chúa là ánh sáng và suối nguồn ánh sáng, trong sự yếu đuối Chúa biểu lộ quyền năng và tình yêu vĩ đại, xin khắc ghi vào tâm hồn chúng con khuôn mặt Chúa, để chúng con biết nhận ra Chúa trong những đau khổ của nhân loại. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ VII: Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ hai

(Suy niệm của một tù nhân)

Trích Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 23, 34)

Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm. Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm.
Trước đây, mỗi khi đi ngang qua một nhà tù, tôi thường ngoảnh mặt ngó sang nơi khác và thầm nhủ: “Mình sẽ không bao giờ kết thúc ở trong đó”. Có những lần tôi đã nhìn nhà tù, thở dài sầu muộn và cảm thấy tối tăm. Khi đi ngang qua nhà tù tôi cảm thấy như đang đi qua một nghĩa trang của những người sống đã chết. Rồi một ngày, tôi đã kết thúc cuộc đời đằng sau song sắt cùng với em trai. Và dường như điều đó là chưa đủ, tôi đã đưa cả cha mẹ tôi vào trong đó. Từ một lãnh địa xa lạ, nhà tù trở thành nhà của chúng tôi: những người đàn ông trong một phòng giam, và mẹ chúng tôi trong một phòng giam khác. Tôi nhìn cha mẹ, cảm thấy xấu hổ: tôi không muốn được gọi là một người đàn ông. Cha mẹ tôi đã già đi trong tù vì tội của tôi.
Tôi đã ngã xuống đất hai lần. Lần đầu tiên khi cái xấu quyến rũ tôi và tôi đã chịu thua: Tôi buôn ma túy, trong mắt tôi hoạt động này đáng giá hơn công việc của cha tôi, phải nai lưng làm việc 10 tiếng một ngày. Lần ngã thứ hai xảy ra khi tôi phá sạt nghiệp gia đình, tôi bắt đầu tự hỏi: “Tôi là ai tại sao Đức Kitô chết vì tôi?” Tiếng kêu của Chúa Giêsu “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Tôi đọc được điều này trong đôi mắt mẹ tôi: bà đã mặc lấy sự xấu hổ của mọi người trong nhà để cứu gia đình. Và bà mang lấy khuôn mặt của cha tôi, người tự thẳm sâu đã tuyệt vọng trong phòng giam. Chỉ hôm nay tôi mới có thể thừa nhận điều này: trong những năm đó tôi không biết mình đã làm gì. Giờ đây tôi biết điều đó, với sự trợ giúp của Chúa, tôi đang cố gắng xây dựng lại cuộc đời. Tôi mắc nợ cha mẹ tôi: nhiều năm trước họ đã phải bán đấu giá những thứ thân thương nhất của chúng tôi, bởi vì họ không muốn tôi phải sống trên đường phố. Trên hết, tôi mắc nợ chính tôi về ý nghĩ để cho cái ác tiếp tục điều khiển cuộc sống của tôi. Điều này đã trở thành đàng thánh giá của tôi.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa lại ngã xuống đất một lần nữa, Chúa bị đè nặng do bởi việc quyến luyến cái xấu của con, do nỗi sợ hãi không thể trở thành người tốt hơn. Với đức tin, chúng con hướng về Cha và chúng con cầu nguyện cho tất cả những ai vẫn chưa biết cách thoát khỏi quyền lực của Satan, khỏi tất cả sức cuốn hút từ việc làm của Satan và hàng ngàn hình thức quyến rũ của nó.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Chúa, Chúa không để chúng con trong đêm tối và bóng tối của sự chết, xin nâng đỡ sự yếu đuối của chúng con, xin giải thoát chúng con khỏi xiềng xích của điều ác và che chở chúng con bằng khiên sức mạnh của chúa, để chúng con có thể hát ca lòng thương xót Chúa muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ VIII: Chúa Giêsu gặp các phụ nữ thành Giêrusalem

(Suy niệm của cô gái có cha bị kết án chung thân)

Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 23,27-30)

Dân chúng đi theo Người đông lắm, trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc Người. Đức Giê-su quay lại phía các bà mà nói: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu. Vì này đây sẽ tới những ngày người ta phải nói: ‘Phúc thay đàn bà hiếm hoi, người không sinh không đẻ, kẻ không cho bú mớm!’ Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: ‘Đổ xuống chúng tôi đi!’, và với gò nổng: ‘Phủ lấp chúng tôi đi!’.
Là con gái của một tù nhân, nhiều lần tôi thấy mình hay được hỏi: “Bạn rất quý cha mình, nhưng có khi nào bạn nghĩ đến nỗi đau mà cha bạn gây ra cho các nạn nhân không?” Và những năm tháng qua, tôi chưa bao giờ tránh né trả lời rằng: “Có chứ, làm sao tôi không nghĩ về điều đó được.” Nhưng tôi cũng hỏi họ rằng: “Có khi nào bạn nghĩ rằng tôi là nạn nhân đầu tiên sau tất cả những gì cha tôi đã làm không? Suốt hai mươi tám năm qua, tôi đã phải chịu đựng bản án ấy, lớn lên mà không có cha bên cạnh.” Suốt những năm qua, tôi đã sống trong giận dữ, khắc khoải và u sầu. Tôi đi khắp các vùng của nước Ý, từ Bắc tới Nam để ở cùng ông ấy. Tôi biết đến các thành phố, không phải vì những danh lam thắng cảnh, mà vì những nhà tù tôi đã viếng thăm. Tôi giống như chàng Telemachus đi tìm Ulysses cha mình: những chuyến đi của tôi là hành trình xuyên nước Ý với những nhà tù và những cung bậc cảm xúc khác nhau.
Cách đây đã lâu, tôi mất đi người mình yêu chỉ vì tôi là con gái của một tù nhân, mẹ tôi bị mắc bệnh trầm cảm, và gia đình tôi sụp đổ. Còn tôi, với đồng lương ít ỏi của mình, tôi vẫn còn chịu được sức nặng của tất cả chuyện này. Cuộc sống đã ép tôi trở thành một người phụ nữ mà không cho tôi thời gian và cơ hội để sống là một đứa trẻ.
Việc cha tôi bị kết án chung thân thực sự là một đàng thánh giá nơi gia đình tôi. Ngày tôi kết hôn, tôi đã ước rằng ông ấy sẽ ở bên tôi, rồi thậm chí chỉ cần ông nghĩ về tôi dù cách xa nhau đến hàng trăm cây số. “Nhưng cuộc sống là thế!” Tôi thường lặp lại điều ấy để có thêm can đảm. Có một sự thật rằng: vì yêu thương, cha mẹ là những người học chờ đợi những đứa trẻ của mình khôn lớn trưởng thành. Còn tôi, vì yêu thương, tôi chờ đợi cha tôi trở về.
Đối với những người như chúng tôi, hy vọng là điều cần phải có.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm thấy lời mà Chúa dành cho những phụ nữ thành Giêrusalem là lời nhắc nhở cho mỗi người chúng con. Lời ấy mời gọi chúng con hoán cải, đi từ thứ tôn giáo cảm xúc để đi đến một đức tin bám rễ sâu trong Lời của Chúa. Chúng con cầu nguyện cho những ai bị buộc phải mang những gánh nặng vì xấu hổ, phải mang lấy những đau khổ vì bị bỏ rơi, phải mang lấy những trống rỗng vì thiếu vắng tình thân. Và với mỗi người chúng con, xin đừng để tội lỗi của những người cha đổ xuống trên con cái của họ.

Chúng ta cùng cầu nguyện:

Lạy Chúa là Cha nhân hậu, Cha không bỏ rơi con cái Cha trong những thử thách gian nan của cuộc đời, xin ban cho chúng con ân sủng để có thể nghỉ yên trong tình yêu của Cha và luôn tận hưởng sự an ủi vì có Cha ở cùng. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen

Chặng thứ IX: Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ ba (Suy niệm của một tù nhân)

Bài trích sách Ai-ca (Ac 3, 27-32)

Cũng là một điều hay cho người nào phải mang ách từ khi còn trẻ. Khi chính Chúa bắt nó phải mang, nó hãy cứ ngồi im lặng một mình, cứ đặt miệng nó trong bụi đất may ra còn chút hy vọng nào chăng – nó cứ đưa má cho kẻ tát, chuốc lấy cho mình đầy nỗi nhuốc nhơ. Vì quả thật, Đức Chúa chẳng bỏ rơi mãi mãi: có làm khổ, Người cũng xót thương, vì Người vốn từ bi cao cả.
Ngã xuống đất chưa khi nào là điều dễ chịu: ngã hết lần này đến lần khác, chẳng những không đẹp đẽ chút nào, mà còn trở thành điều khiến người ta bàn tán và lên án, như thể người ấy không còn có thể đứng lên được nữa. Là nam nhi, khi bị gục ngã dù quá nhiều lần, tôi cũng đứng lên bấy nhiêu lần. Trong tù, tôi thường nghĩ đến việc một đứa trẻ phải ngã xuống đất rất nhiều lần trước khi biết đi: tôi tin rằng chúng ta đều trải qua những điều ấy, và khi ta ngã cũng là lúc ta lớn khôn. Khi còn nhỏ, tôi sống trong gia đình như sống trong một nhà tù: tôi đã sống trong những thống khổ vì bị đánh đập, xen lẫn nơi tôi là nỗi u uốt của một người lớn và cái vô tư của một đứa trẻ. Trong những năm tháng ấy, tôi nhớ đến chị Gabriella, hình ảnh duy nhất khiến tôi thấy chút an ủi: chị là người duy nhất thấy được những điều tốt nhất nơi những điều tồi tệ nhất của tôi. Như Phêrô, tôi đã đi tìm và tôi đã tìm thấy hàng ngàn lời bào chữa cho những sai lầm của mình: và một điều kỳ lạ là một chút sự thiện vẫn còn lại đâu đó trong tôi.
Lúc trong tù, tôi đã trở thành ông ngoại. Nếu một ngày kia tôi có thể nói với cháu mình, tôi sẽ không kể về những điều xấu xa tôi đã phạm, nhưng chỉ nói về những điều thiện mà tôi đã tìm thấy. Tôi sẽ kể cho con bé nghe ai đã giúp tôi đứng dậy, ai đã mang lòng thương xót của Thiên Chúa đến với tôi, và những điều ấy xảy ra khi nào. Trong tù, điều tuyệt vọng thực sự chính là cảm thấy cuộc đời mình sống không còn ý nghĩa gì nữa: đó chính là điều đau khổ nhất, điều khiến người ta trở nên người cô đơn hơn tất cả những ai cô đơn trên thế giới này. Đúng là cuộc đời tôi đã trải qua hàng ngàn những vỡ vụn, nhưng điều tuyệt vời là những mảnh vụn ấy vẫn có thể được ráp nối lại. Đó chẳng phải là điều dễ dàng, nhưng đó là điều duy nhất vẫn còn ý nghĩa ở đây.
Lạy Chúa Giêsu, khi Chúa ngã xuống đất lần thứ ba, mọi người nghĩ rằng ‘mọi chuyện thế là kết thúc,’ nhưng một lần nữa, Chúa lại đứng lên. Cùng với Chúa, chúng con xin tín thác cuộc đời của chúng con nơi đôi tay của Chúa Cha, và trao phó nơi Người tất cả những ai đang bị giam hãm trong những vực thẳm sai lầm của mình, để họ có sức mạnh đứng dậy và can đảm để chính mình được giúp đỡ.

Chúng ta cùng cầu nguyện:

Lạy Chúa là thành lũy của những ai hy vọng nơi Chúa, Đấng ban cho những ai bước theo lời dạy bảo của Chúa được sống trong bình an, xin nâng đỡ những bước chân đầy sợ hãi của chúng con, xin nâng chúng con dậy khỏi những sa ngã của sự bất tín bất trung, xin đổ dầu an ủi và rượu hy vọng trên những vết thương của chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.




Chặng thứ X: Chúa Giêsu bị lột áo

(Suy niệm của một nhân viên giáo dục trong trại tù)

Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 19,23-24)

Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với nhau: “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.
Là một nhân viên giáo dục trong trại, tôi thấy một khi bước vào tù, người ta bị tước bỏ mọi sự: người ấy bị tước hết nhân phẩm vì những lỗi lầm mình đã phạm, mất lòng tự trọng cũng như sự tôn trọng của người khác. Mỗi ngày, tôi thấy sự tự chủ của người ấy mất dần sau những song sắt: người ấy cần đến tôi, cũng là để nhờ viết một bức thư. Những thụ tạo bị giam giữ ấy được trao phó cho tôi: những con người bất lực, tức giận trong sự mong manh của mình, và cũng thường bị tước đi những gì cần thiết để hiểu những tội ác mình đã phạm. Nhưng nhiều khi, họ giống như những em bé mới sinh, vẫn còn có thể được định hình lại. Tôi nhận thấy rằng cuộc sống của họ có thể bắt đầu lại theo một hướng khác, dứt khoát quay lưng lại với cái ác.
Nhưng sức mạnh của tôi đang yếu dần từng ngày. Là một cái phễu của những giận dữ, sầu buồn và cay đắng thì rốt cục cũng sẽ bị bào mòn tất cả, ngay cả những người đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Tôi chọn công việc này sau khi mẹ của tôi bị giết hại trong một tai nạn do một cậu bé trong cơn thèm ma túy gây ra: Tôi quyết định ngay lập tức đáp trả điều ác đó bằng điều lành. Dù yêu công việc này, nhưng nhiều khi tôi cũng phải chiến đấu để tìm thấy sức mạnh giúp mình tiến bước. Trong công việc phục vụ tế nhị này, chúng tôi cần phải luôn cảm thấy rằng mình không bị bỏ rơi, để có thể nâng đỡ rất nhiều anh chị em được giao phó cho chúng tôi và đang có nguy cơ chìm xuống mỗi ngày.
Lạy Chúa Giêsu, khi chiêm ngắm Chúa bị lột áo ra hết, chúng con cảm thấy xấu hổ và thẹn thùng. Khi đối diện với sự thật trần trụi, chúng con bắt đầu trốn chạy. Chúng con ẩn mình sau những chiếc mặt nạ đáng kính và thêu dệt cho mình những bộ quần áo dối trá, thường làm bằng miếng cơm manh áo của người nghèo, nhưng lại bị tước đoạt chỉ vì sự thèm khát tiền bạc và quyền lực của chúng con. Xin Chúa Cha thương xót chúng con, và nhẫn nại giúp chúng con trở nên những người sống bình dị hơn, trong sáng hơn, và chân thật hơn, để chúng con có thể từ bỏ mọi thứ vũ khí của sự giả hình.

Chúng ta cùng cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin giải thoát chúng ta bằng sự thật của Chúa, xin chiếu soi ánh sáng của Chúa trên chúng con để chúng con phản chiếu vinh quang của Chúa trong thế giới này. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ XI: Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá

(Suy niệm của một linh mục bị kết án và sau đó được tuyên bố vô tội)

Tin mừng theo thánh Luca (Lc 23, 33-43)

Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm. Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi!” Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do-thái.” Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”
Chúa Kitô bị đóng đinh vào Thánh giá. Trong đời linh mục của mình, tôi đã nhiều lần suy niệm đoạn Tin Mừng này. Rồi một ngày kia, người ta đặt tôi lên thánh giá, tôi cảm thấy tất cả sức nặng của cây gỗ ấy: lời buộc tội là những từ ngữ cứng như đinh, đường lên dốc thì cheo leo, nỗi đau đớn thì thấm vào từng làn da thớ thịt. Khoảnh khắc đen tối nhất là khi tôi nhìn thấy tên mình bị treo bên ngoài phòng xử án: lúc ấy, tôi hiểu rằng mình buộc phải chứng minh sự vô tội của mình, rằng tôi không phải là thủ phạm. Tôi bị treo trên cây thập giá ấy ròng rã suốt mười năm: đó là đường thập giá của tôi với những tập tài liệu, những hoài nghi, những cáo buộc và lăng mạ. Mỗi lần đứng trước các tòa án, tôi thường tìm Đấng bị treo trên Thánh giá: tôi nhìn chằm chằm vào đó khi những người làm luật điều tra câu chuyện của tôi.
Lần kia, sự xấu hổ đã khiến tôi nghĩ rằng tốt nhất là kết thúc điều này. Nhưng rồi tôi quyết định: mình vẫn là linh mục như mình vẫn luôn là như thế. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc cắt ngắn cây thánh giá, ngay cả khi luật pháp cho phép tôi làm điều ấy. Tôi đã chọn nếm trải những phán xét thông thường: tôi nợ chính mình, nợ những chàng trai mà tôi đã huấn luyện nhiều năm trong chủng viện và nợ gia đình của họ. Khi leo lên đồi Calve của chính mình, tôi đã thấy tất cả những con người ấy: họ trở thành những bạn đồng hành của tôi, họ chịu đựng sức nặng của cây thánh giá với tôi, họ giúp lau khô những giọt nước mắt của tôi. Cùng với tôi, nhiều người trong số họ đã cầu nguyện cho cậu bé đã buộc tội tôi: chúng tôi sẽ không bao giờ ngưng làm điều ấy. Ngày tôi được tuyên trắng án với công thức đầy đủ, tôi khám phá ra rằng tôi hạnh phúc hơn so với mười năm trước: tôi đã cảm nhận rõ ràng hành động của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Bị treo trên thập giá, chức tư tế thừa tác của tôi đã được chiếu tỏ.
Lạy Chúa Giêsu, tình Chúa yêu chúng con đến nỗi khiến Chúa bị treo trên Thánh Giá. Chúa đang hấp hối, nhưng Chúa không mỏi mệt tha thứ và trao ban sự sống. Chúng con xin trao vào tay Cha những người con vô tội của Cha đã phải chịu những án phạt bất công trong suốt dòng lịch sử. Ước gì Lời Chúa vang vọng trong con tim của họ: “hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng.”

Chúng ta cùng cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa là nguồn mạch thương xót và tha thứ, xin Chúa tỏ mình giữa những đau khổ của nhân loại, xin soi sáng chúng con bằng ân sủng tuôn tràn từ vết thương của Đấng đã bị đóng đinh và xin cho chúng con kiên trì trong đức tin giữa những đêm tối của thử thách. Chúng con cầu xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen

Chặng thứ XII: Chúa Giêsu chết trên Thánh Giá

(Suy niệm của một nhân viên giám sát nhà tù)

Tin mừng theo thánh Luca (Lc 23, 44-46).

Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Mặt trời ngưng chiếu sáng. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa. Đức Giêsu kêu lớn tiếng : “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Nói xong, Người tắt thở.
Là một nhân viên giám sát nhà tù, tôi không thể đóng đinh một người, bất kỳ người nào, vào bản án của họ: như thế là kết án họ thêm một lần nữa. Họ phải đền trả cho tội ác họ đã gây ra: nếu không làm thế thì có nghĩa là coi nhẹ tội ác của họ và biện minh cho những hành động không thể khoan dung mà họ đã gây ra khiến người khác phải đau khổ cả về thể xác và đạo đức.
Tuy nhiên, công lý thực sự chỉ có thể đạt được nhờ lòng thương xót, không đóng đinh vĩnh viễn một con người vào thập giá, nhưng trở thành một sự hướng dẫn để giúp người ấy đứng dậy, dạy cho họ biết nắm lấy điều lành, là thứ không bao giờ hoàn toàn tắt nơi trái tim họ mặc cho điều ác họ đã phạm. Chỉ khi tìm lại nhân tính của mình, người bị kết án mới có thể nhận ra mình nơi người khác, nơi nạn nhân mà họ đã gây ra đau khổ. Hành trình tái sinh này có thể quanh co và có nguy cơ ngã lại vào điều ác vẫn luôn rình chờ; không có con đường nào khác để họ xây dựng lại một lịch sử cá nhân và cộng đồng.
Sự cứng rắn của bản án đặt hy vọng của một người vào thử thách khó khăn: giúp họ suy ngẫm và tự hỏi liệu những lý do cho hành động của họ có thể trở thành một cơ hội để nhìn lại bản thân từ một góc nhìn khác chăng. Tuy nhiên, để làm điều này, họ cần phải học nhận ra con người ẩn đằng sau tội lỗi mà mình gây ra. Trong quá trình này, đôi khi thoáng thấy một chân trời có thể gieo hy vọng cho người bị kết án, và một khi bản án đã được thi hành, họ trở lại xã hội và hy vọng rằng họ sẽ được mọi người chào đón trở lại sau một thời gian bị khước từ.
Bởi vì, kể cả những người bị kết án, tất cả đều là con cái của cùng nhân loại.
Lạy Chúa Giêsu, Ngài đã chết vì một bản án bại hoại, được tuyên bố bởi các thẩm phán bất công và bị kinh tởm bởi sức mạnh không thể chối bỏ của Chân lý. Chúng con xin phó dâng các quan toà, thẩm phán và luật sư cho Chúa Cha, để họ được chính trực khi thực thi việc phục vụ của họ vì dân vì nước, đặc biệt vì những người đau khổ trong hoàn cảnh túng nghèo.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Thiên Chúa, là vua của công lý và hòa bình, Ngài đã nghe tiếng kêu của Con Chúa nơi tiếng kêu của toàn thể nhân loại. Xin dạy chúng con đừng định danh một người bằng tội lỗi họ đã phạm và giúp chúng con nhìn thấy nơi mỗi người ngọn lửa sống động của Thánh Thần. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ XIII: Đức Giêsu được hạ xác xuống

(Suy niệm của một thầy tình nguyện viên)

Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 23, 50-53)

Khi ấy có một người tên là Giô-xếp, thành viên của Thượng Hội Đồng, một người lương thiện, công chính. Ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng. Ông là người thành A-ri-ma-thê, một thành của người Do-thái, và cũng là người vẫn mong chờ Nước Thiên Chúa. Ông đến gặp tổng trấn Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ.
Những người tù luôn là những thầy dạy của tôi. Trong sáu năm, tôi đã đến các nhà tù với tư cách là một tu sĩ tình nguyện và tôi luôn tạ ơn về ngày đầu tiên, lúc tôi gặp thế giới khuất này. Nhìn vào khuôn mặt họ, tôi nhận ra một cách rõ ràng rằng nếu tôi ở vị trí của họ, cuộc sống của tôi có thể đã đi theo một hướng khác. Kitô hữu chúng ta thường rơi vào ảo tưởng nghĩ rằng chúng ta tốt hơn những người khác, như thể sự quan tâm của chúng ta đối với người nghèo cho phép chúng ta đứng lên làm thẩm phán trên người khác, lên án họ bao nhiêu lần chúng ta muốn mà không một lời kháng cáo nào.
Trong cuộc đời của Ngài, Chúa Kitô đã chọn và muốn ở cùng với những người rốt cùng: Ngài đi đến những vùng biên bị lãng quên của thế giới, nơi những kẻ trộm, người phong cùi, những cô gái điếm, những kẻ tội đồ. Ngài đã muốn chia sẻ nỗi khốn cùng, cô đơn và bất an. Tôi luôn nghĩ rằng đây thật đúng nghĩa với những lời của Ngài: “Ta ngồi tù, các ngươi đã đến viếng thăm” (Mt 25,36).
Khi bước qua từ nhà tù này đến nhà tù khác, tôi nhìn thấy cái chết ở đó. Nhà tù tiếp tục chôn những người đang sống: những câu chuyện đời họ chẳng ai muốn nghe. Đức Kitô mỗi lần lặp lại với tôi: “Hãy tiếp tục, đừng dừng lại. Hãy nắm lấy họ bằng đôi tay của con.” Tôi không thể không nghe Ngài nói: ngay cả nơi những người tồi tệ nhất cũng luôn có Ngài ở đó, chỉ có điều ký ức về Ngài bị che mờ. Tôi chỉ cần dừng lại sự tất bật của mình, dừng lại trong thinh lặng trước những khuôn mặt bị sự ác tàn phá và lắng nghe họ với lòng thương xót. Đây là cách duy nhất tôi biết để đón nhận họ, và tránh đi ánh mắt nhìn vào những lỗi lầm mà họ đã gây ra. Chỉ bằng cách này, người ta mới có thể tin cậy và tìm lại sức mạnh để phó mình cho sự tốt lành của Thiên Chúa, và nhận ra mình theo một cách khác.
Lạy Chúa Giêsu, thân thể Chúa bị biến dạng bởi quá nhiều tội ác, giờ đây được quấn vải và trao lại cho lòng đất: đây là sự tạo thành mới. Chúng con dâng Giáo hội vào tay Chúa Cha, một Giáo hội được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa, để Giáo hội không bao giờ đầu hàng trước thất bại và vẻ bề ngoài, nhưng tiếp tục đi ra loan tin vui cứu rỗi cho tất cả mọi người.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Thiên Chúa, là khởi nguyên và cùng đích của mọi sự, nhờ sự Vượt Qua của Đức Kitô, Ngài đã cứu toàn thể nhân loại, xin cho chúng con sự khôn ngoan của Thập giá để có thể trao mình cho ý Chúa, với một tâm hồn tươi vui và biết ơn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

Chặng thứ XIV: Đức Giêsu được chôn táng trong mộ

(Suy niệm của một sĩ quan cảnh sát nhà tù)

Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 23,54-56).

Hôm ấy là áp lễ, và ngày sa-bát bắt đầu ló rạng. Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sa-bát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền.
Trong sứ mạng của một Cảnh sát nhà tù, mỗi ngày tôi đụng chạm đến nỗi đau của những người sống cảnh tù tội. Thật không dễ đối diện với người bị sự dữ điều khiển và đã gây ra đau khổ tột cùng cho tha nhân, ngang qua đó làm cho đời sống của họ thêm khó khăn. Trong nhà tù, sự vô tâm gây ra những tổn thương sâu xa cho những ai đã phạm tội và đang phải trả cái giá của công lý. Một đồng nghiệp, và là thầy của tôi, thường nói rằng: “Nhà tù sẽ biến đổi anh: một người tốt lành có thể trở nên cộc cằn; một người xấu có thể trở nên lương thiện”. Kết quả phụ thuộc vào tôi và “cắn răng chịu đựng” là điều thiết yếu để đạt đến mục tiêu công việc của tôi, là mở ra một cơ hội nữa cho những ai nghiêng chiều về sự dữ. Để làm được điều này, tôi không thể giới hạn mình vào việc đóng và mở cửa nhà tù mà không cảm thấy nỗi đau của kiếp người.
Trân trọng những khoảnh khắc đời người, tình liên đới tha nhân có thể dần dần nảy sinh ngay cả trong thế giới đau khổ này. Tất cả có thể được thể hiện ngang qua những cử chỉ, mối quan tâm và ngôn từ có khả năng biến đổi, ngay cả khi chúng được cất lên cách lặng lẽ. Tôi không cảm thấy xấu hổ khi thi hành sứ mạng này ngang qua việc khoác lên mình bộ đồng phục mà tôi luôn tự hào. Tôi cảm nhận được sự đau khổ và tuyện vọng, vì tôi đã có kinh nghiệp ấy từ thuở nhỏ. Ước mong nhỏ bé của tôi là trở thành điểm quy chiếu cho những ai tôi gặp gỡ ngang qua song sắt nhà tù. Tôi nỗ lực hết mình để bảo vệ niềm hy vọng của những người đã đánh mất chính mình, lo sợ về một ngày họ được ra ngoài và có nguy cơ bị xã hội từ chối thêm một lần nữa.
Trong nhà tù, tôi thường nhắc nhớ họ, với Thiên Chúa, không có tội lỗi nào là không thể được tha.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa được trao vào tay con người thêm một lần nữa, nhưng lần này là trong bàn tay yêu thương của ông Giuse Arimatea và của những phụ nữ đạo đức từ Galilea, những người hiểu rằng thân thể Ngài quý trọng biết bao. Những đôi tay này đại diện cho bàn tay của tất cả những ai phục vụ Ngài không biết mệt mỏi và hiện thực hoá tình yêu nhân loại. Và chính tình yêu này làm cho chúng con hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn, chỉ cần con người sẵn lòng buông mình cho ân sủng của Ngài. Trong lời cầu nguyện, chúng con tín thác nơi Chúa Cha, cách đặc biệt, tất cả cảnh sát nhà tù và những ai cộng tác vào các công việc khác nhau trong sứ mạng ấy.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Chúa là ánh sáng vĩnh cửu và hừng đông không bao giờ tàn, xin đổ đầy ân sủng Ngài trên những ai đang dấn thân làm vinh danh Ngài và phục vụ những người đau khổ nơi vô số những đau khổ của kiếp người. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.


Đọc tiếp »

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

Cánh cửa sổ đã khép lại

 

Thơ: Cánh cửa sổ đã khép lại

LM J.B Đình Hà

12/Apr/2005



Cánh cửa sổ đã khép lại
(Tưởng nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II)

Mỗi buổi sáng chủ nhật,
lúc mười hai giờ trưa,
từ tầng trên cùng của điện Vatican
cánh cửa sổ phòng Cha rộng mở.
Bóng dáng Cha hiện diện trong y phục màu trắng.
Cha mĩm cười đưa bàn tay lên cao,
Cha vẫy chào, chúc lành cho chúng con.
Đoàn con ngập tràn nỗi vui
dưới quảng trường Thánh Phêrô,
đang hướng mắt lên cửa sổ của Cha yêu.

Bằng những lời âu yếm,
Bằng tiếng nói dịu dàng
Cha ân cần nhắn nhủ.
Rồi lời kinh Angelus âm vang
Cha đã đọc hàng ngàn lần trong cuộc đời của Cha.
Với điệp khúc thân thương:
"Ave Maria grátia plena,
Dóminus tecum: benedícta tu in mulieribus,..."
Và kết thúc buổi gặp gỡ,
Từ đôi bàn tay run run thánh thiện,
Cha ban tặng chúng con
Phép Lành Bình An.



Có những ngày con không đến được quảng trường.
Từ phía bên này đối diện cửa sổ phòng Cha,
lúc mười hai giờ trưa,
Con đến mở cửa sổ.
Đựơc thấy chân dung Cha.
Đựơc nghe giọng Cha nói,
có khi thều thào đứt quãng;
nhưng con cảm nhận những lời ngọt ngào
Chảy vào tim con.
Và nhận lãnh Phúc Lành Cha ban tặng.
Những buổi tối, khi nhìn thấy ánh sáng từ hai ô cửa sổ.
Con thấy lòng mình ấm lại,
vì biết rằng có Cha ở ngay bên.

Sáng hôm nay Chủ Nhật,
lúc mười hai giờ trưa,
Con đến mở cửa sổ
Và nhìn về phía cửa sổ của Cha
Cánh cửa vẫn đóng kín,
…im lìm.
Con bật khóc…
…hụt hẫng.
Cánh cửa sổ đã khép lại
từ tối thứ Bảy tuần Bát Nhật Phục Sinh,
Lúc hăm mốt giờ ba bảy phút.
Bầu trời Roma mang màu xám từ sau lễ tang của Cha
mấy hôm nay cũng đau buồn rơi lệ…
Con không thấy bóng dáng Cha bên cửa sổ
Chỉ có mấy cánh chim Hải âu bay lượn,
như bóng dáng Thiên Thần
nhắc con rằng Cha đã về Thiên Quốc. 


Nhưng con vẫn nghe văng vẳng đâu đây,
những lời ngọt ngào ấm áp của Cha.
“Đừng sợ!”
“Duc in altum”, “Hãy ra khơi”
"Hãy tin tưởng vào Chúa Kitô",
"Hãy lắng nghe giáo huấn của Chúa",
"Hãy nhìn ngắm dung nhan Chúa",
"Hãy kiên trì trong việc lắng nghe Lời Chúa".
"Hãy để cho Chúa làm kẻ hướng dẫn cuộc tìm kiếm và khát vọng của chúng con",
"Hãy để cho Chúa hướng dẫn mọi lý tưởng và ao ước của con tim chúng con".
“Hãy xoá bỏ hận thù và dập tắt chiến tranh”,
“Hãy vun đắp nền văn hoá sự sống”
“Và dựng xây nền văn minh tình thương”.
"Hãy trở nên những chứng nhân cho sức mạnh của tình yêu Chúa giữa lòng thế giới hôm nay".
.....

Và lời sau cùng của Cha:
“Đừng khóc! Hãy cùng cầu nguyện trong niềm vui”.
Và cuộc đời của Cha vụt hiện đến trước mắt con:
Cha Cầu nguyện liên lỉ,
Cha yêu Chúa sắt son
Thánh Thể là trung tâm
Cha chuyên cần học tập
Cha làm việc không ngừng.
Công lý và hoà bình
Trái tim Cha rộng mở
Cha đến với mọi người
Tha thứ và yêu thương
Hiệp nhất và Hoà giải
Bình an và công chính
Cha mến Mẹ hết tình
“Totus Tuus”.
"Mọi sự của con là của Mẹ"

Cha ơi! Con yêu Cha. Con nhớ Cha nhiều quá!
Con biết rằng,
Khi cánh cửa sổ phòng Cha ở dưới thế khép lại
Cũng chính là lúc,
Cánh cửa sổ trên Thiên Quốc mở ra
Với vinh quang của Đức Kitô Phục Sinh
cùng với Mẹ Maria và triều Thần Thánh.
Và nơi đó bóng dáng cha hiện diện với y phục màu trắng
Cha mỉm cười đưa bàn tay lên cao
Cha Vẫy chào, chúc lành cho chúng con.

Nơi Thiên Quốc,
xin Cha cầu nguyện cho con
Mãi noi gương Cha
Sống Tin, Yêu và Hy Vọng.



(Rôma, Chúa nhật thứ ba Phục Sinh 10/04/2005)

Trích bài đã đăng trên vietcatholic.news <http://www.vietcatholic.net/News/html/25585.htm>

 Để nhớ 15 năm ngày Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II qua đời 2/04/2005

Đọc tiếp »