Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Bai giảng: Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ


CHÚA NHẬT 34 TN C
CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ
L.m. G.B. Trương Đình Hà

Hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng lễ Trọng Chúa Kitô Vua Vũ Trụ.
Đặt lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ vào chúa nhật cuối cùng của năm Phụng Vụ, Giáo Hội muốn chúng ta ý thức thời gian là của Chúa. Chúa là Chủ của thời gian. Chúa Kitô Con Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật đã tạo dựng nên vũ trụ này, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Vì vậy Ngài là vua của vũ trụ vạn vật, là Chúa của sự sống là vị vua của tình yêu.
Trong bài đọc 1, sách Samuel II nói đến bối cảnh người Do Thái xin ông Đavid làm vua trên họ tại đất Hebrôn. Sở dĩ tại đó vì David đi trốn vua Saul. Trong sách Samuel I chương 17 nói đến việc Đavid ra nghênh chiến với tên Goliat một tên tướng dũng mạnh của quân Philitin với giáo sắt, mũ chiến gươm; còn David chỉ với một cây gậy chăn chiên và cái ná. Với sức mạnh của Thiên Chúa David đã chién thắng tên Goliat hùng mạnh và cứu nguy cho dân tộc Do Thái trước hiểm họa của quân Philitin tàn sát. Sau đó dân chúng tung hô David rằng: Saul giêt một trăm, David giết một ngàn, Saul một ngàn, David một vạn. Vì thế mà vua Saul ghen tức với David, sợ mất ngôi vua nên đã tìm cách giết David nhiều lần và David đã trốn thoát. Sau này khi vua Saul mất nghĩa cùng Chúa thì dân chúng mới tìm đến Hebrôn để xin David làm vua trên họ. Câu chuyện đó cho thấy vua David đã cứu thoát dân đã bảo vệ dân, đem lại sự an vui, sự sống cho dân.
Hình ảnh đó đưa ta đến Tin Mừng hôm nay thánh Luca ghi lại những giờ phút sau cùng của Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Tại sao lại mừng lễ Chúa Kitô Vua mà Phụng Vụ lại cho ta nghe bài đọc Chúa chịu chết trên Thánh Giá? Xin hỏi quý ông bà anh chị em. Chúa Giêsu được Chúa Cha tôn vinh khi nào? Có phải khi Chúa làm phép lạ lần đầu tiên tại Cana nươc hóa thành rượu không? Có phải khi Chúa chữa người mù được sáng? Có phải khi Chúa chữa người câm nói được? Có phải khi Chúa cho người què đi được? Có phải khi Chúa chữa những người cùi được lành sạch, và khi Chúa gọi Lazarô từ trong mồ bước ra? Tất cả điều đó dân chúng tôn vinh Chúa như một vị vua, một vị ngôn sứ, nhưng chưa phải là lúc Chúa Cha tôn vinh.
Chúa Giêsu được Chúa Cha tôn vinh là khi Chúa chịu chết trên Thánh Giá. Khi Ta bị treo lên, Ta sẽ lôi kéo mọi người đến với Ta. Khi mà Chúa không còn giơ tay làm phép lạ được nữa, vì quân dữ đã đóng đinh tay Chúa vào Thánh Giá rồi, khi mà đôi chân Chúa không bước đi được nữa đôi chan cũng bị đóng đinh rồi. Khi mà mặt mày hình hài Chúa không còn hình tượng người ta nữa, vì quân lính đánh đập tơi tả mặt mũi đầy máu vì vòng gai trên đầu, nghĩa là lúc mà người đời nghĩ rằng Chúa đã mất hết uy lực, các tên lính chế nhạo Chúa, người đi qua đi lại chế nhạo Chúa. Nhưng chính lúc đó là lúc Chúa Giêsu được Chúa Cha Tôn Vinh, chinh lúc đó là lúc Chúa chu toàn Thánh Ý Cha, vâng phục ý Cha cho đến chết, và cái chết của Chúa mang lại sự sống vĩnh cửu cho nhân loại. Chúa chết để tha thứ cho con người, Chúa làm cho con người được đổi mới, được nên thánh, được lành sạch, được no đủ, được sống đời đời. Chúa chết vì yêu thương nhân loại. Chúa chính là vị Vua của sự sống, vua của tình yêu. Ngay trên thập giá một tên trộm không nhận ra Chúa là Vua, nó chửi mắng Chúa, thách thức Chúa, đối lại tên trộm lành nhận ra Chúa là vua. Lạy Ngài khi nào về Nước Ngài xin nhớ đến tôi. Và Chúa Giêsu thực thi Vương Quyền của Chúa ngay trên Thập Giá: Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với ta.
Chúng ta có để cho Chúa là Vua của tâm hồn chúng ta không? Có nhiều thứ làm chủ ta, làm cho ta trở thành nô lệ: như có người ham mê cờ bạc để nó làm chủ mình mình lệ thuộc vào nó nên đi đến chỗ tán gia bại sản. Có người ham mê rượu, uống rượu đến ghiền không làm chủ được ngày nào mà không có là thấy thiếu, túc là nô lệ cho ruọu rồi, không có không được. Có bạn trẻ mê games quên ăn quên ngủ bỏ bê học hành, mình làm nô lệ cho nó và tôn thờ nó rồi. Có người mê vào ma túy, buổi tối thì hút chích, ban ngày ngủ, lên cơn ghiền là chửi cha chửi mẹ, hổn hào xất xược…làm nô lệ cho ma túy và tôn thờ nó là vua. Rượu, ma túy, chất kích thích làm mất phẩm giá của con người. Có người không làm chủ miệng lưỡi mình, nói những lời xúc phạm hay gây chia rẽ…Hãy loại trừ mọi thứ vua trần gian ra khỏi lòng ta và để Chúa Kitô ngự trị trong trái tim ta.
Xin Chúa là Vua của tâm hồn thân xác, tâm trí ta. Đặt Chúa là Vua của cõi lòng ta, để ta tôn thờ yêu mến trên hết mọi sự.
Đọc tiếp »

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2019

LỄ MỪNG 25 NĂM LINH MỤC - LINH MUC VỚI HY TẾ THÁNH GIÁ


THÁNH LỄ MỪNG 25 NĂM LINH MỤC
Cha Đaminh Phạm Đình Hảo, chánh xứ Lam Sơn (1994 22/9 2019)
(Bài đọc 1: Is 6,1-8; Bài đọc 2: Rm 8, 31b-39; 
Tin Mừng: Lc 1, 39-56)

LINH MỤC VỚI HY TẾ THÁNH GIÁ

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Hôm nay, chúng ta đến hiệp dâng thánh lễ Tạ ơn chia sẻ niềm vui với Cha Đaminh nhân dịp mừng Ngân Khánh Linh Mục, đồng thời cũng là dịp để cùng với Cha Tạ ơn Chúa về hồng ân linh mục đã lãnh nhận. Nhìn lại chặng đường 25 năm Linh Mục, có lẽ Cha Đaminh cũng chỉ biết cùng với Đức Mẹ cất cao lời ca Tạ ơn mà trong Tin mừng chúng ta vừa nghe: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa…vì Chúa đã đoái thương đến phận hèn tôi tá Chúa”. Mà lời Tạ ơn có hiệu lực nhất và đẹp lòng Thiên Chúa nhất là Lời Tạ Ơn mà Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha trong hiến tế thập giá. Và Hiến tế thập giá được hiện tại hóa qua Hy Tế Tạ Ơn, mà linh mục dâng lên Chúa Cha mỗi ngày. Vì thế mà cuộc đời linh mục găn liền với Hy Tế Thánh Giá, như thánh Phaolô đã nói: “Khi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá.” (1 Cr 2,2)
1. Chúng ta có suy nghĩ gì khi ngày nào chúng ta cũng tham dự thánh lễ, ngày nào cứ khoảng 4g00 chuông nhất là mọi người lục tục dậy kéo nhau đến nhà thờ, đi hoài ngày nào cũng đi, có người siêng năng đi sáng rồi đi chiều nữa, ngày nào cũng thấy ông cha làm lễ vậy mà không chán. ÔBACE biết sao không bởi vì mỗi khi chúng ta cử hành Thánh lễ, là chúng ta tham dự vào một lễ hy tế, một cử hành Thánh Thể do Chúa Giêsu thiết lập trong bữa Tiệc Ly, khi Người truyền cho các Tông đồ rằng: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). và chính hôm sau Người dâng mình trên thánh giá Chính vì thế, việc cử hành Thánh Thể thường được gọi là “Hy tế Thánh lễ”[1]. Và điều đặc biệt trong Hy tế Thánh lễ là Hy lễ do quyền năng Chúa Thánh Thần thánh hóa và biến đổi. Trong thánh lễ Chúa Thánh Thần làm một cuộc biến đổi kỳ diệu: biến đổi bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa, và như thế ai tham dự vào hy lễ của Chúa Kitô thì được biến đổi để nên mới hơn.
Chính vì thế mà Chúa mời gọi các linh mục dấn thân theo Chúa để Chúa nhờ con người yếu đuối của linh mục mà hiện diện với Dân Chúa để ban ơn cứu độ cho Dân Chúa, để biến đổi đời sống của Dân Chúa từng ngày. Linh mục là con người cũng cần được biến đổi nên mới, và phải hiến thân cho dân Chúa mỗi ngày, đó là thập giá.
Mọi ơn gọi nên thánh trong Giáo Hội đều bắt nguồn từ Thập Giá Chúa Kitô (ĐSTH số 23). Chiêm ngắm Chúa Kitô chịu đóng đinh là nguồn cảm hứng cho mọi ơn gọi. Hồng ân Thánh Thần của Thập Giá là nguồn gốc mọi hồng ân, đặc biệt là hồng ân đời linh mục. Nói đến Thập Giá của Chúa là nói đến chính Chúa Giêsu chịu đóng đinh, nói đến cuộc Khổ Nạn của Chúa mà mỗi người kitô-hữu đều thông phần khi chịu phép rửa. “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2,20).
Thế nhưng Hy Tế Thập Giá của Chúa Kitô lại dẫn con người đến ơn Phục Sinh. Những ai cùng chết với Đức Kitô thì sẽ cũng sống lại với Người. Người linh mục nếu đã cùng hiến thân đến cùng trong hy tế Thập giá của Chúa Kitô thì cũng sẽ vui mừng đón nhận ơn phục sinh của Người.
Vì thế có thể nói Con người linh mục là con người của thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Tuy nhiên Con đường của người linh mục không là một giấc mơ về Đấng Mesia trần thế của quyền lực, của cai trị. Chúa Giêsu của các sách Tin Mừng loại trừ hình ảnh Đấng Messia theo mơ ước quyền năng của con người. Thập giá đảo lộn các ước mơ của con người. Theo thần học gia Karl Rahner, muốn biết Thiên Chúa là ai, phải quỳ dưới chân thập giá và cùng lúc hướng về cánh cửa mà Phục Sinh mở ra. Tìm Thiên Chúa nơi nào khác không phải là thập giá là tư duy theo kiểu loài người, chứ không theo đường lối của Thiên Chúa.Vì vậy những người sống đời linh mục là những người đi tìm Thiên Chúa. mà Thập Giá Chúa Kitô đối với họ hết sức quan trọng, vì họ chỉ có thể tìm thấy Thiên Chúa nơi mà Người tự mạc khải rõ nét nhất khuôn mặt của Chúa Cha. Theo cái nhìn của thánh Máccô huyền nhiệm về Đấng Cứu Thế chỉ được bộc lộ rõ rệt khi Người bị chết treo trên thập giá với lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng: “Quả thực người này là Con Thien Chúa” (Mc 15,39). Vì thế, con đường của người linh mục theo bước Thầy Chí Thánh không thể tách rời khỏi thập giá. Theo con đường thập giá có nghĩa là từ bỏ bản thân (Mc 8,35), sống liên đới với tha nhân, bán tài sản để phân phát cho người nghèo (Mc 10,21), phục vụ cho đến chết (Mc 10,45).
2. Tuy hồng ân linh mục được Chúa và Hội Thánh trao ban cho một cá nhân như trong bài đọc thứ nhất Chúa kêu gọi Isaia và Isaia đáp lời, nhưng sứ vụ linh mục lại nhắm sinh lợi cho nhiều người: “Thầy đã cắt đặt, để các con đi, và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại”. Hôm nay khi mừng Ngân Khánh 25 năm linh mục của cha Đaminh chắc chắn là ngài đã để lại nhiều hoa trái thiêng liêng cho dân Chúa qua những nơi mà ngài phục vụ, thế nhưng có lẽ ngài cũng không cần làm bảng tổng kết.
Chúng ta trở lại với Cha Karl Rahner, đã chia sẻ trong dịp mừng Ngân Khánh Linh mục như sau: “Nếu muốn làm bảng tổng kết những năm qua, chúng tôi sẽ làm thế nào đây? Nhưng có cần làm bảng tổng kết không? Với tâm tình biết ơn và hoan hỉ, hãy trao những năm ấy cho lòng thương xót Chúa, và thế là đủ. Điều tốt Chúa đã làm, thậm chí đã thương tình thực hiện khi sử dụng chúng ta, chắc chắn sẽ còn. Nhưng song song với điều tốt ấy vẫn còn khối điều tiêu cực, như sự mù quáng thiêng liêng của chúng ta, sự hèn nhát của chúng ta, sự dửng dưng của chúng ta, sự máy móc của chúng ta. Chính sự nghèo nàn đáng thương ấy đã được tình thương Thiên Chúa bao bọc lấy. Chính vì thế, chúng ta chỉ biết tri ân Thiên Chúa và tri ân các hồng ân Thiên Chúa ban, tri ân Giáo Hội, tri ân mọi người”.
Lược lại tiểu sử, tôi thấy hành trình của Cha Đaminh bắt đầu từ Năm 1954 di cư vào Nam, định cư tại Rạch Bắp, Thủ Dầu Một, Bình Dương.
Năm 1968-1971 đệ tử Viện Don Bosco Thủ Đức
Năm 1971-1972 tập viện Dòng Don Bosco Trạm Hành Đà Lạt
Năm 1972 nhập Giáo phận Xuân Lộc
Năm 1972-1973 giúp Giáo xứ Thanh Sơn, Gia Kiệm
Năm 1973-1974 giúp Giáo xứ Tân Phước, BRVT
Năm 1974-1975 giúp Giáo xứ Vinh Trung, BRVT
Năm 1975-1978 học tại Đại chủng viện Xuân Lộc
Năm 1978-1994 làm việc mục vụ tại Kinh tế mới Thọ Lộc, xã Bảo Chánh, Xuân Lộc
- 22/9/1994 lãnh nhận thừa tác vụ Linh mục tại Nhà thờ Chính tòa Xuân Lộc do Đức giám mục Phaolo Maria Nguyễn Minh Nhật
- 15/8/1995- 2001 Phó xứ Bến Đá, BRVT
- 2001-2008 Chánh xứ Bến Đá, Giáo phận Bà Rịa
- 2008 đến nay, Chánh xứ Lam Sơn, Giáo phận Bà Rịa
Khẩu hiệu đời Linh mục của ngài là: “Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh người thật chí thánh chí tôn” (Luca 1,49)
+ "Năm 2013 đến nay, con bệnh suy thận mãn tính, sức khỏe suy yếu dần nên đã xin Đức cha được phép nghỉ hưu". Có lẽ đây là câu mà tôi cảm động nhất và cho tôi suy tư về hành trình linh mục với hy tế thập giá của cha Đaminh, như trong sắc lệnh Presbyterorum Ordinarium có viết:
"Nhờ thái độ khiêm nhường và vâng phục trong tinh thần trách nhiệm và tự nguyện, các linh mục nên giống Đức Kitô, có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu, Đấng “tự hủy mình khi nhận lấy thân nô lệ…, đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,7-9), và nhờ vâng phục, Người đã vượt thắng và chuộc lại tội bất phục tùng của Ađam, như Thánh Tông Đồ đã minh chứng: “vì một người không vâng phục mà muôn người hoá thành tội nhân, thì cũng thế, vì một Đấng phục tùng mà nhiều người được trở nên công chính” (Rm 5,19").(PO 15)
Trong 6 năm qua có lẽ quý ông bà ace không còn thấy một linh mục trẻ trung, tháo vát, nhanh nhẹn, giọng nói to hùng hồn nữa mà chỉ thấy một linh mục lọm khọm, đau yếu, chân đi không vững, giọng nói thì thều thào run run đứt quảng không nghe rõ nữa. Có khi có người thầm thì chán quá sao Đức Cha không đổi ông cha già này đi cho ông cha trẻ hơn. Thế nhưng thưa ôbace, chính lúc này, chính lúc sức tàn lực kiệt, già nua bệnh tật đeo đẳng trong mình thì người linh mục thể hiện rõ nét nhất khuôn mặt của Chúa Kitô, người linh mục dâng hiến tế đẹp nhất lên Cha trong cuộc đời Linh mục đầy thăng trầm đau thương đã trọn hiệp thông cuôc đời mình với Hiến Tế Thập Giá của Đức Kitô mà không bỏ cuộc. Chúng ta thấy Chúa Giêsu được Chúa Cha tôn vinh lúc nào: không phải lúc Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, không phải lúc Chúa làm cho nước hóa thành rượu tại Cana, cũng không phải lúc Chúa chữa lành người phong hủi, cho người què đi được người chết sông lại…mà Chúa Giêsu được Chúa Cha tôn vinh khi Người không còn hình tượng người ta nữa, khi Người bị đóng đinh trên thập giá, khi Người thều thào mếu máo nói với Cha: Lạy Cha sao Cha đành bỏ con?
Và Cha Đaminh hôm nay có lẽ cũng tâm niệm sâu xa trong hành trình linh mục của ngài nên ngài cũng ghi sâu với lời mẹ Magarita nói với cha Don Bosco: “…bắt đầu dâng Lễ là bắt đầu vác Thánh Giá…”. Con xin chúc mừng Ngân khánh linh mục cha hôm nay và con Nguyện xin Chúa cho cha được đi hết hành trình đời linh mục theo gương Thầy Chí Thánh. Amen
L.m. G.B. Trương Đình Hà
(Ngọc Hà CN 22/9/2019)

Đọc tiếp »

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2019

SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2019
Của Đức Thánh Cha Phanxicô

Anh chị em thân mến,
Hàng năm, qua Mẹ Giáo hội, Thiên Chúa “ban cho chúng ta mùa vui này khi chúng ta chuẩn bị kỷ niệm Mầu nhiệm Vượt qua với tâm hồn và quả tim được đổi mới…khi chúng ta tưởng niệm những sự kiện vĩ đại, là những sự kiện đem lại cho chúng ta sự sống mới nơi Chúa Kitô (Lời tựa, Mùa Chay I). Do đó, chúng ta có thể hành trình từ sự Phục Sinh hướng tới việc kiện toàn ơn cứu độ mà chúng ta đã lãnh nhận nhờ kết quả của Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô – “Quả thế, chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong” (Rm 8:24). Mầu nhiệm Cứu độ này, đã hoạt động trong chúng ta trong suốt cuộc sống trần gian của chúng ta, là một quá trình năng động, cũng bao trùm lịch sử và tất cả mọi loài thọ tạo. Như Thánh Phaolô nói, “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8:19). Trong viễn cảnh này, tôi muốn đưa ra một vài suy tư để đồng hành cùng cuộc hành trình hoán cải Mùa Chay sắp tới của chúng ta.
1.   Ơn cứu độ đối với mọi loài thọ tạo
Việc cử hành Tam Nhật Vượt qua với cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, đỉnh cao của năm phụng vụ, mời gọi chúng ta hàng năm thực hiện một hành trình chuẩn bị, với nhận thức rằng việc chúng ta được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô (x. Rm 8:29) chính là một món quà vô giá của Lòng thương xót của Thiên Chúa.
Khi chúng ta sống như con cái của Thiên Chúa, được cứu độ, được dẫn dắt bởi Chúa Thánh Thần (x. Rm 8:14) và có khả năng nhận biết và tuân giữ giới luật của Thiên Chúa, bắt đầu với những giới luật được viết nơi tâm hồn chúng ta cũng như trong tự nhiên, chúng ta cũng làm lợi cho công trình sáng tạo bằng cách cộng tác trong ơn cứu chuộc nó. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô nói rằng mọi loài thọ tạo ngóng trông ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người; hay nói cách khác, rằng tất cả những ai được hưởng ân sủng của Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu đều có thể trải nghiệm sự kiện toàn của nó quan ơn cứu độ đối với chính thân xác con người. Khi tình yêu của Chúa Kitô biến đổi đời sống của các vị Thánh về mặt tinh thần, thể xác và linh hồn, họ dâng lời ngợi khen Thiên Chúa. Thông qua việc cầu nguyện, chiêm niệm và nghệ thuật, họ cũng kể đến các loài thụ tạo khác trong lời tán tụng đó, như chúng ta thấy đã được thể hiện một cách đáng ngưỡng mộ trong “Bài Ca Thụ Tạo” của Thánh Phanxicô Assisi (x. Thông điệp Laudato Si, số 87). Tuy nhiên, trong thế giới này, sự hài hòa được tạo ra bởi ơn cứu độ liên tục bị đe dọa bởi sức mạnh tiêu cực của tội lỗi và sự chết.
2.   Sức mạnh hủy diệt của tội lỗi
Thật vậy, khi chúng ta không sống với tư cách là con cái Thiên Chúa, chúng ta thường cư xử theo cách thức tiêu cực đối với những người thân cận cũng như các thụ tạo khác – cũng như chính bản thân chúng ta – vì chúng ta bắt đầu ít nhiều suy nghĩ một cách có ý thức rằng chúng ta có thể sử dụng chúng theo ý muốn của chúng ta. Sau đó, sự vô độ dần dần chiếm ưu thế: chúng ta bắt đầu sống một cuộc sống vượt quá những giới hạn được đặt ra bởi chính điều kiện con người và bản chất của chúng ta. Chúng ta quy phục những mong muốn không bị gò bó mà Sách Khôn Ngoan đã coi như là điển hình của tội lỗi, những người hành động mà không nghĩ đến Thiên Chúa hoặc hy vọng về tương lai (x. Kn 2: 1-11). Trừ khi chúng ta có xu hướng liên tục hướng tới lễ Phục sinh, hướng về phía chân trời Phục sinh, nếu không, tâm lý được thể hiện trong các khẩu hiệu như: “Tôi muốn có tất cả và tôi muốn nó ngay bây giờ!”, hay “Bấy nhiêu vẫn chưa đủ”, sẽ giành thế thượng phong.
Căn nguyên của mọi sự ác, như chúng ta biết, chính là tội lỗi, mà ngay từ lần xuất hiện đầu tiên đã phá vỡ sự hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa, với những người khác và với chính các loài thụ tạo, mà qua đó chúng ta được liên kết theo một cách riêng biệt nhờ thân xác của chúng ta. Sự rạn nứt này đối với sự hiệp thông với Thiên Chúa cũng làm suy yếu mối tương quan hài hòa của chúng ta với môi trường mà qua đó chúng ta được mời gọi để sống, để rồi khu vườn trở thành một nơi gai góc hoang dã (x. St 3: 17-18). Tội lỗi khiến con người tự xem mình là đấng tạo hóa, tự xem mình là vị chúa tể tuyệt đối và tùy ý sử dụng nó, không theo như mục đích mà Đấng Tạo Hóa mong muốn mà vì lợi ích của chính bản thân mình, gây tổn hại đến các loài thụ tạo khác.
Một khi giới luật của Thiên Chúa, luật của yêu thương, bị khước từ, thì luật của kẻ mạnh hơn kẻ yếu sẽ chiếm ưu thế. Tội lỗi ẩn giấu nơi tâm hồn con người (x. Mc 7: 20-23) mang hình dáng của sự tham lam cũng như việc theo đuổi sự an nhàn một cách vô độ, thiếu quan tâm đến lợi ích của người khác và thậm chí của chính mình. Nó dẫn đến việc khai thác công trình sáng tạo, cả con người và môi trường, do sự thèm muốn vô độ đó, vốn coi mọi ham muốn như là một quyền và sớm hay muộn cũng sẽ phá hủy tất cả những thứ trong tầm tay của nó.
3.   Sức mạnh chữa lành của sự ăn năn hối cải và sự tha thứ
Muôn loài thụ tạo hết sức mong mỏi con cái Thiên Chúa thực sự trở nên “những thụ tạo mới”. Vì “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5:17). Thật vậy, nhờ vào việc được mặc khải, chính loài thụ tạo có thể của hành một Cuộc Vượt qua, tự mở ra một trời mới đất mới (x. Kh 21: 1). Hành trình hướng đến Lễ Phục Sinh đòi hỏi chúng ta cần phải đổi mới diện mạo và tâm hồn của mình với tư là những người Kitô hữu thông qua việc ăn năn, hoán cải và tha thứ, ngõ hầu có thể sống trọn vẹn ân sủng dồi dào của Mầu nhiệm Vượt qua.
“Khát khao mãnh liệt và háo hức” này, mong đợi của tất cả mọi loài thụ tạo này, sẽ được kiện toàn qua sự mặc khải vinh quang của con cái Thiên Chúa, nghĩa là, khi các Kitô hữu và tất cả mọi người dứt khoát bước vào “công việc đầy khó nhọc”, vốn đòi hỏi một sự hoán cải. Tất cả mọi loài thụ tạo được mời gọi, cùng với chúng ta, bước ra khỏi “tình trạng nô lệ và cảnh hư nát để được chung hưởng tự do và vinh quang của con cái Thiên Chúa” (Rm 8:21). Mùa Chay chính là một dấu chỉ mang tính Bí tích của sự chuyển đổi này. Nó mời gọi các Kitô hữu thể hiện Mầu nhiệm Vượt qua một cách mạnh mẽ và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của mình, trước hết qua việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí.
Ăn chay, nghĩa là học cách thay đổi thái độ của chúng ta đối với người khác và tất cả mọi thụ tạo, tránh xa cám dỗ “nuốt chửng” tất cả mọi thứ hầu thỏa mãn thói tham lam của chúng ta, và sẵn sàng chịu hy sinh vì tình yêu, là điều có thể lấp đầy sự trống rỗng nơi tâm hồn mỗi người chúng ta. Cầu nguyện dạy chúng ta từ bỏ việc tôn thờ ngẫu tượng cũng như sự kiêu căng của bản ngã, và đồng thời thừa nhận nhu cầu của chúng ta đối với Thiên Chúa và Lòng thương xót của Ngài. Bố thí là việc mà nhờ đó chúng ta thoát khỏi sự điên rồ của việc chỉ lo tích trữ tất cả mọi thứ cho bản thân với niềm tin viển vông rằng chúng ta có thể đảm bảo một tương lai vốn chẳng hề thuộc về chúng ta. Và do đó, tái khám phá niềm vui kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa đối với công trình sáng tạo và đối với mỗi chúng ta, đó là yêu mến Ngài, yêu mến anh chị em của chúng ta, và toàn thể thế giới, và để khám phá ra nơi tình yêu này hạnh phúc đích thực của chúng ta.
Anh chị em thân mến, thời gian “bốn mươi ngày chay” mà Con Thiên Chúa trải qua trong hoang địa đã mang mục đích biến nó trở thành một khu vườn của sự hiệp thông với Thiên Chúa mà trước kia đã từng là như vậy trước tội nguyên tổ (x. Mc 1: 12-13; Is 51: 3). Chớ gì Mùa Chay năm nay của chúng ta trở thành một hành trình trên cùng con đường đó, mang niềm hy vọng của Chúa Kitô cho mọi thụ tạo, để tạo thành thụ “cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8: 21). Chúng ta đừng để cho thời cơ ân sủng này trôi qua một cách vô ích! Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa giúp chúng ta đặt ra cho mình một con đường của sự hoán cải thực sự. Chúng ta hãy bỏ lại sau lưng thói ích kỷ và chỉ tự quan tâm đến bản thân mình, và hướng đến Cuộc Vượt qua của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy sát cánh với những anh chị em của chúng ta đang cần được giúp đỡ, chia sẻ những của cải tinh thần và vật chất của chúng ta với họ. Có như vậy, bằng cách đón nhận một cách cụ thể chiến thắng của Chúa Kitô đối với tội lỗi và sự chết vào cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng sẽ chiếu tỏa sức mạnh có tính biến đổi của nó cho tất cả mọi loài tạo.
Từ Vatican, ngày 4 tháng 10 năm 2018
Lễ Thánh Phanxicô Assisi
Giáo Hoàng Phanxicô
Đọc tiếp »

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Chúa Nhật XV - tn C



CHÚA NHẬT XV TN C

"Người Samria nhân hậu"

Tin Mừng hôm nay Chúa dạy chúng ta yêu thương bằng việc làm.
Người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ. Thầy tư tế và thầy Lê vi trong Tin mừng "tránh qua bên kia mà đi" là vì các thầy sợ phạm luật ô uế khi đụng vào người bệnh, đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà đến bản thân.
Trong cuộc sống, chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người anh em khi họ cần giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ mất thời gian, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an toàn, tiện nghi của mình. Chúng ta muốn được yên thân! Thầy tư tế và thầy Lêvi đã tự hỏi: "Điều gì sẽ xảy ra cho tôi, nếu tôi dừng lại và săn sóc người anh em bị đánh nhừ tử?". Trái lại, người Samari đã đảo ngược câu hỏi: "Điều gì sẽ xảy ra cho người anh em bị đánh nhừ tử, nếu tôi không dừng lại và chăm sóc người ấy?" Người Samari tốt lành đã xả thân vào một hành động vị tha đầy nguy hiểm.
Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Yêu thương là hy sinh, là quên mình, là hiến thân phục vụ tha nhân: Kahil Gibram có một câu nói chí tình: "Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi". Càng đi tìm bản thân, con người càng đánh mất chính mình. Càng co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của mình, con người càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn. Càng muốn được yên thân, con người càng vong thân. Thánh Phanxicô trong lời kinh Hòa Bình: "chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân".
Nỗi khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể được lấp đầy khi họ biết đến gần, cúi xuống phục vụ tha nhân. Con người chỉ thành đạt thực sự, con người chỉ thục sự là người khi họ dám sống chết cho anh em.
Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác. Mẹ Têrêsa Calcutta nói: "Ki tô hữu là người trao ban chính bản thân mình".
Tôi hay đọc tin tức trên Internet, và vừa rồi có một bài báo nói rằng người Trung quốc hôm nay khá dững dưng và vô tâm; dững dưng với những nỗi đau khổ của người khác. Họ sợ cứu người sẽ liên lụy. Thế nhưng không phải chỉ hôm nay, mà tôi đã xem một video clip cách đây khá lâu từ năm 2011 đã nói đến điều đó.
Câu nhuyện trên video clip:
1. Một em bé ở Trung quốc, khoảng 3,4 tuổi sáng sớm chạy ra đường bị một xe tải nhỏ cán vào em bé nằm đó xe bỏ chạy; một lát sau thêm một chiéc xe chở khách chay qua cán tiếp lên người em bé và cũng bỏ chay luôn. Nhiều người đi dường đi qua nhìn thấy bỏ đi, những người đi xe máy xe đạp đi qua cũng bỏ đi. Lát sau có một người công nhân đi quét đường thấy em bé và ôm em vào lề, sau đó người ta đưa em vào bệnh viện nhưng bị thương quá nặng em đã chết sau đó. Theo camera ghi lại có 18 người đã đi ngang qua nhìn thấy em bé bị thương nằm đó nhưng đã bỏ đi qua. (21/10/2011 bé Duyệt Duyệt qua đời)[1].
2. Vào ngày 26/5/2018[2]. Hình ảnh trên video cho thấy bé trai 4 tuổi treo người lơ lửng bên ngoài ban công, dường như ở nhà một mình trong khi bố mẹ đi vắng.
Phát hiện cậu bé đang gặp nguy hiểm, Mamoudou Gassama, một thanh niên nhập cư gốc Mali, ngay lập tức trèo qua ban công của 4 tầng chung cư và chỉ mất chưa đến 30 giây để tới vị trí của bé trai dù không sử dụng thiết bị bảo hộ nào.
Gassama đã ôm lấy cậu bé và đưa em vào nơi an toàn trong sự cổ vũ của nhiều người dân xung quanh. Đứa trẻ chỉ bị tróc một móng tay, trong khi anh chàng có vài vết xước trên người.
Gassama, 22 tuổi, người đến Pháp cách đây 6 tháng, kể rằng anh đang đi qua chung cư thì thấy đám đông tụ tập trước tòa nhà. Một người hàng xóm đã gọi cho lực lượng cứu hỏa sau khi cố gắng giải cứu bé trai từ ban công bên cạnh nhưng bất thành.
"Tôi làm điều này vì đó là một đứa trẻ", Gassama nói khi được hỏi tại sao lại mạo hiểm tính mạng của mình để cứu bé trai.
Hành động dũng cảm của Gassama nhận được sự ca tụng trên mạng xã hội. Tổng thống Emmanuel Macron thậm chí đã mời anh đến Điện Elysee   để đích thân cảm ơn chàng thanh niên này.
Thị trưởng Paris Anne Hidalgo cũng ca ngợi sự anh hùng của Gassama và nói rằng bà đã gọi cho anh để cảm ơn. Bà mô tả anh là "người nhện của quận 18". 
"Xin gửi lời chúc mừng đến Mamoudou Gassama vì hành động dũng cảm của cậu ấy đã cứu sống một đứa trẻ", bà Hidalgo viết trên Twitter. Tôi trả lời rằng hành động anh hùng của cậu ấy là tấm gương cho tất cả công dân và thành phố Paris sẽ hỗ trợ cậu ấy định cư ở Pháp".
Hôm nay, chúng ta họp nhau trong ngày Chúa Nhật. Chúng ta nghe Lời Chúa, rồi lát nữa rước Chúa. Xin Lời Chúa đánh động chúng ta, giúp chúng ta dành ưu tiên cho Chúa. Để có được sức mạnh yêu thương anh chị em, ta phải yêu mến Chúa trước hết. Yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn nghĩa là đặt Chúa lên trên hết trong cuộc đời của mình. Chúa phải chiếm chỗ nhất trong tâm hồn chúng ta, Chúa phải là chỗ nhất trong mọi hoạt động. Từ đó chúng ta mới có sức để yeu thương anh chị em. Nếu không có lòng yêu mến Thiên Chúa, con người sẽ không yêu thương anh chị em mình được.
Lạy Chúa cuộc sống đạo của chúng con sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi của đạo là yêu thương chỉ là điều phụ thuộc. Xin đừng để chúng con loay hoay với những tính toán ích kỷ; chai đá, dửng dưng trước những khổ đau của anh em. Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót thương và giúp đỡ những ai đang cần đến chúng con. Amen (TP)
L.m. G.B. Trương Đình Hà

Đọc tiếp »

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

Thằng Khùng - Thanh Ngang trên Thập Tự Giá


THẰNG KHÙNG
(Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)

Bài viết của nhà thơ Phùng Quán,
(THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài. Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Tuân Nguyễn (không phải Nguyễn Tuân là nhà văn có cùng tên) – khi cùng ở trong tù)

“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
– Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
– Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
– Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
– Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
– Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi.
– Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
– Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
– Tôi thích nhất là Candide.
– Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
– Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: “Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.
– Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
– Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
– Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
– Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… – những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
– Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
– Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
– Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
– Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
– Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…
Phùng Quán
Ghi chú: Tuân Nguyễn (không phải nhà văn Nguyễn Tuân) là một nhà thơ tài hoa, tinh tế, song có số phận hẩm hiu, đau khổ. Đây là câu chuyện do ông Tuân Nguyễn kể lại cho Phùng Quán, rồi Phùng Quán viết lại. Nhân vật chính – Cha Vinh – mất năm 1971. Tuân Nguyễn bị tù đến 1973, nên ông đã chứng kiến cái chết của nhân vật.
____________________
Ghi Chú:
(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.
Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa của Ngài….
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH,
Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).
Tấm gương can trường.
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*
Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.
Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.
Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.
Ngài học Văn Khoa – Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại
Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour Madame!”
Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu
Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize – Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu.
Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.
Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.
Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha
Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.
Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.
Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “Ở Dưới Vực Sâu” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.
Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,” “Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8, Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.
Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.
Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng.
Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:
“Tự do thế này à!”
Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.
Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân
khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:
“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”
Ngài đáp:
“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”
Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”
Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.
Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”
Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.
Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
TGP Hà Nội
BBT (Theo HĐGMVN)
Nguồn trang Facebook Lư Lư Châu




Đọc tiếp »